Trang chủ arrow Tài liệu arrow THO HAIKU NHAT BAN - Doc va suy ngam
THO HAIKU NHAT BAN - Doc va suy ngam PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân   
29/08/2011

 FACEBOOK cua THAY TAN. Vao doc cho vui:

http://www.facebook.com/profile.php?id=100002838108131&sk=wall

 _________________________

 

ĐÔI LỜI CỦA NGƯỜI DỊCH

Haiku là thể thơ ngắn độc đáo của Nhật Bản. Mỗi bài chỉ 17 âm tiết, chia thành ba phần, người Nhật viết liền một dòng nhưng khi dịch ra tiếng nước ngoài được ngắt thành ba câu. Vì chưa quen, người đọc lần đầu có thể hơi ngỡ ngàng, tuy nhiên, đọc kỹ và suy ngẫm, ta sẽ thấy thơ Haiku thật tinh tế. Mỗi bài, thường là một bức tranh phong cảnh nhỏ, một tâm trạng thoáng qua nhưng gợi cho ta nhiều điều. Nội dung và triết lý thơ Haiku không nằm ở câu chữ mà ở sự tưởng tượng của chính người đọc.

Thơ Haiku thật kỳ lạ. Ngắn và giản dị. Nhiều khi không nói gì hoặc nói điều chẳng đâu vào đâu, thậm chí tưởng như “ngớ ngẩn”. Thế mà càng đọc, (trong trường hợp của tôi là càng dịch), ta cứ bị cuốn hút bởi sự “không có gì” và “ngớ ngẩn” đó. Tôi có cảm giác người Nhật viết Haiku không phải để truyền tải ý, mà hình ảnh, những hình ảnh chấm phá giản dị. Hình như cũng không có ý định nói điều gì to tát về triết lý hoặc tình cảm như ta thường thấy ở các dòng thơ khác. Có lẽ vì thế mà người đọc phải quen dần để cảm nhận và yêu. Trên thế giới có rất nhiều người yêu và bắt chước viết thơ Haiku Nhật Bản. Hầu như nước nào cũng có Hội những người yêu thích loại thơ này. Thậm chí còn có trường dạy cả cách viết Haiku.

Bản thân tôi cũng phải trải qua một thời gian khá dài mới làm quen được. Cụ thể hơn 30 năm kể từ ngày tôi lần đầu tò mò tìm hiểu thơ cổ Nhật Bản, và đã dịch một ít, dịch có thêm vần, mà chỉ loại thơ năm câu (tanca) trong tập Manyoshu đồ sộ. Giờ thì tôi yêu, và kết quả của tình yêu đó là tập Thơ Haiku Nhật Bản lần này.

 Đầu tiên phải nhắc đến ba cây đại thụ của thơ Haiku Nhật. Đó là Matsuo BASHO, Yasa BUSON và Kobayashi ISSA. Mỗi vị tôi dịch khoảng trên dưới nghìn bài. Riêng Basho tôi có hai bản dịch khác nhau, từ hai nguồn khác nhau.          

Ngoài ba đại thụ nói trên, trong tập này tôi dịch một lượng khá lớn thơ khất thực và thơ thiền của Taneda SANTOKA, một trong những nhà thơ Nhật hiện đại được ưa thích nhất hiện nay, cũng như một số nhà thơ Haiku tiêu biểu khác.

            Dưới đấy xin trích giới thiệu với độc giả Văn Học Nước Ngoài một số trong 3500 bài Haiku của cuốn sách đang chờ xuất bản này.

Thái Bá Tân

___________________

 

Matsuo BASHO

 

Matsuo Bashō (1644-1694), nhà thơ thiền lỗi lạc thời Edo, tên thật là Matsuo Munefusa, là con trai út thứ bảy của một samurai cấp thấp phục vụ cho lãnh chúa thành Ueno, một tòa thành nằm giữa con đường đi từ Kyoto đến Ise. Mùa xuân năm 1679 Matsuo Bashō được phong tước hiệu Sosho (bậc thầy dạy thơ Haikai). Năm sau ông dời đến một túp lều bên sông Sumida. Cũng trong những năm này, ông tu tập thiền đạo với một thiền sư tại một ngôi chùa địa phương.

Năm 1682 Bashō am bị cháy, ông dời về Koshu và từ đó lấy bút hiệu là Bashō (Ba Tiêu). Năm sau ông trở về Edo và dựng lại "ba tiêu am". Bắt đầu từ đây, định mệnh thơ haikai rơi vào tay của Bashō: ông đã sáng tạo ra một phong cách mới là Shōfu (Tiêu Phong, ẩn ý về đời người nghệ sĩ như những tàu lá ba tiêu bị xé tan trong gió những đêm giông bão), một phong cách dung hợp giữa sự trào lộng đời thường của haikai đương thời với yếu tố tao nhã tâm linh của thể thơ renga (liên ca) cổ điển. Ông cũng dần hoàn thiện một loại thơ ngắn 17 âm tiết trong 3 câu 5+7+5 từ những câu đầu (hokku) của thể thơ renga và thể thơ cực ngắn ấy về sau được mọi người biết đến với cái tên đã trở thành bất hủ - haiku.

Trong đời mình Basho đã thực hiện nhiều chuyến hành hương dài khắp nước Nhật và đến năm 1693, ông quyết định đóng cửa sống trong cô tịch, không tiếp khách. Người ta nói cánh cửa nhà ông chỉ mở ra khi có một biến cố lớn, như hoa triêu nhan nở bên hàng dậu chẳng hạn. Trong thời gian này, cuộc đời và thơ ca của ông hướng đến một lý tưởng gọi là karumi, tức sự nhẹ nhàng thanh thoát tìm thấy ngay giữa cuộc đời ô trọc.(Theo Wikipedia).

 

1

Con quạ

Ngồi trên cành cây khô

Chiều thu.

 

2

Người thợ đập đá

Ngồi nghỉ bên dàn hoa bìm bìm

Cuộc đời này thật buồn.

 

3         

Con ếch

Nhảy xuống ao tù

Tiếng nước té.

 

4                     

Làng này, vùng núi này

Nơi không ai lui tới

Sẽ rất buồn nếu không buồn.

 

6

Nước thủy triều nông

Chân sếu ẩm ướt

Vì hơi lạnh từ biển.

           

9

Đã mùa thu

Có lý do để già

Đám mây và con chim.

 

12

Trăng

Một nhà sư

Mang trăng đi qua bãi cát.

 

14

Biển xanh

Sóng vỡ có mùi rượu gạo

Trăng sáng đêm nay.

 

15

Trong thảm hoa màu trắng

Đêm

Chuyển thành ngày.

 

16

Người ta buồn vì vượn khóc

Trẻ khóc thì sao?

Gió thu.

 

19

Không hóa thành bướm

Mùa thu

Đang chín dần, thành mồi cho sâu.

 

20

Sắp thu

Càng muốn ngồi

Trong căn phòng trải bốn chiếu.

 

22

Thủy triều dâng

Con sếu bước trên đôi chân ngắn

Nước quá gối.

 

23

Đêm trăng lặng yên

Có thể nghe trong tán lá

Tiếng sâu ăn hạt dẻ.

 

26

Khóm liễu ngủ mơ màng

Tôi cứ nghĩ họa mi

Là linh hồn của nó.

 

28

Những cánh hoa dưa

Rơi thành tiếng xuống đất

Hoa lãng quên?

 

37

Uống trà sáng

Nhà sư

Lặng im như hoa cúc.

 

39

Đêm thu, mưa

Nước chảy thành dòng trên lá chuối

Tôi ngồi nghe tiếng đêm.

 

41

Trong chuồng bò

Muỗi kêu o o

Làm đen thêm cái nóng.

 

42

Trên đường này

Một mình không bạn

Đêm thu.

 

45

Hoa cúc thơm, trong vườn

Chiếc dép mòn

Trơ đế vẹt.

 

46

Lơ đãng

Nghe lời đưa tiễn

Nhớ mùa thu ở Kisô

 

53

Im lặng mênh mông

Càng im lặng bởi tiếng dế

Tắt dần phía đền Núi Đá.

 

54

Trong mơ, gió xuân thổi

Cánh hoa bay tả tơi

Tỉnh dậy còn nghe tiếng rơi. 

 

58

Chiếc lưỡi lửa yếu ớt

Dầu lắng tận đáy đèn

Buồn sao!

 

61

Hoa tàn

Hạt rơi xuống đất

Như những giọt nước mắt.

 

62

Đông hay Tây

Đều đau khổ đời này

Dửng dưng gió thổi.

 

63

Trung Thu

Dạo nhiều vòng quanh hồ

Toàn đêm đen quanh hồ.

 

66

Đêm, chiếc bình vỡ

Nước trong bình đóng băng

Chợt tỉnh.

 

67

Trăng, hay trời đã sáng?

Sống lười, theo ý mình

Thế là đã hết năm.

 

71

Chiếc tổ cò ngả nghiêng trên cây

Phía dưới, nơi không có gió

Anh đào nở hoa thản nhiên.

 

72

Ngôi nhà không có đàn bà

Cả bông hoa trắng trên bờ dậu

Cũng làm tôi ớn lạnh.

 

74

Có phải gió

Thổi mạnh làm gãy cành thông?

Tiếng nước té thật mát.

 

75

Dòng suối trong

Con cua nhỏ

Theo chân tôi bò lên.

 

76

Đời quả xấu xa

Nhưng chừng nào có anh ở đời

Tôi còn bị đời lôi cuốn.                      

 

77       

Hồn bay theo trăng

Sáng ngời trên núi

Để xác tôi trong bóng tối.

 

78                               

Đừng xem đời là quán trọ

Khi anh, như tôi

Muốn được ngủ đêm nay trong quán trọ.    

 

80

Bỏ phí cuộc đời

Là người

Không bỏ phí cái gì.

                                                                       

82

Chỉ tiếng nước làm bạn

Căn lều cô đơn

Như chỗ lặng giữa hai đợt sóng.                                                      

 

85

Trăng tròn

Bảy bài hát dài của người đàn bà

Hướng về phía biển.

 

94

Cuối xuân, chim buồn

Cá khóc

Mắt đầy lệ.

 

98

Yên tĩnh

Tiếng dế kêu

Thấm từng kẽ đá.                  

           

102

Trên chuông đại nhà chùa

Con bướm đêm

Co mình, ngủ.

                                   

104

Trăng

Chiếu xiên rặng tre

Chim cu kêu.

 

107

Chuông chùa tắt

Hương hoa đêm

Làm chuông ngân thêm.

 

113

Tôi đi

Anh ở lại

Hai mùa thu.

 

123

Dẫu còn yếu gầy

Vô cớ

Bụi cúc đâm bông.

 

127

Ốm

Ngồi nhai tảo khô

Cát giữa hai hàm răng.

 

135

Mọi người ngày một già

Đám thanh niên Êbisu

Còn làm họ già thêm.

 

153

Mặt trời ngày đông

Bóng tôi đóng băng

Trên lưng ngựa.

 

            Yosa BUSON  

 

            Yosa Buson tên thật là Taniguchi Buson, sinh năm 1716 ở làng Kema, tỉnh Settsu, ngoại ô thành Osaka, mất ngày 25 tháng 12 năm 1784, là thi sĩ và họa sĩ người Nhật trong thời kỳ Edo. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, năm 1737, ông đến thành Edo học vẽ và làm thơ theo Basho . Năm 1772, Buson ra mắt tập thơ đầu tiên . Người ta biết đến ông chủ yếu như một họa sĩ, và do là họa sĩ, thơ ông nhiều hình ảnh với những nét chấm phá độc đáo. Có thể ví ông như Vương Duy của Tung Quốc đời Đường. Cùng Matsuo Bashō và Kobayashi Issa, Buson được xem là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của Nhật Bản thời kỳ Edo

1

Bài thơ đầu năm viết xong...

Nhà thơ Haiku

Tự hài lòng.

 

2

Ngày dài hơn...

Đâu đó phía cầu

Con gà lôi vỗ cánh.

 

3

Ngày cứ dài thêm

Bâng khuâng nhớ lại

Những ngày xa xưa.

 

4

Chầm chậm, ngày tắt dần...

Để lại tiếng vọng

Trong góc nhỏ Kyôtô này.

 

5

Thầy tế ngủ gật...

Ống tay áo trăng trắng

Giữa hoàng hôn mùa xuân.

 

6

Trong căn lều nhỏ của tôi

Không cúng Phật nến và hoa...

Giờ hoàng hôn, tôi thấy buồn và sợ.

 

7

Ngủ trưa một chốc

Tỉnh dậy

Đã xế chiều.

 

8

Cho ai

Chiếc gối kia trên sàn

Giữa hoàng hôn mùa xuân?

 

9

Cánh cửa lớn ngoài cổng

Trầm tư

Giữa hoàng hôn mùa xuân.

 

10

Trăng mờ khói...

Ai đó

Đang đứng giữa vườn lê.

 

11

Cây lê nở hoa

Sang sáng dưới ánh trăng...

Một người đàn bà đọc thư.

 

12

Mưa xuân...

Gần như tối hẳn

Nhưng ngày chưa tắt.

 

13

Con sò nhỏ trên bãi biển...

Mưa xuân

Đủ để làm ướt nó.

 

14

Mưa xuân rơi...

Quả bóng trên mái nhà

Ướt như áo đứa trẻ.

 

15

Chọn lúc yên tĩnh

Và vắng người

Cây mẫu đơn nở hoa.

 

16

Cánh hoa mẫu đơn rụng

Chồng lên nhau...

Hai ba cánh một chỗ.

 

17

Mưa tháng Năm...

Các ngôi nhà nhìn ra sông...

Chính xác là hai.

 

18

Qua cầu...

Tay xách dép

Thật dễ chịu.

 

22

Con chim cu

Bay chéo

Qua kinh thành Hêian.

 

23

Giếng cổ...

Vang lên trong đêm

Tiếng con cá đớp muỗi.

 

27

Tự nhiên buồn

Khi leo lên đồi...

Hồng dại nở hoa.

 

28

Đêm hè quá ngắn...

Mảnh trăng gầy

Soi bãi nước nông bên sông.

 

29

Phòng người vợ đã chết...

Tôi lặng người khi vô tình

Dẫm lên chiếc lược của nàng.

 

30

Hơn cả năm ngoái

Giờ tôi thấy cô đơn..

Hoàng hôn mùa thu.

 

31

Được ở một mình

Giữa chiều hoang hôn

Cũng là hạnh phúc.

 

32

Cao trên trời

Trăng sáng đi qua

Con phố nghèo nàn này.

 

33

Tung dây câu

Gió thu thổi bay...

Cái cảm giác buồn buồn khó tả.

 

36

Mùa đông, nửa đêm...

Ai đó cưa gỗ

Tiếng cưa hình như cùn.

 

37

Chiếc dép cỏ

Lềnh bềnh dưới ao tù...

Tuyết nhẹ rơi.

 

42

Ngỗng bay thành hàng...

Trăng chấm dấu tròn

Bên lề bầu trời.

 

44

Gió thu, bên bờ biển...

Cá nhỏ phơi thành dây

Từ mái hiên.

 

46

Ừ, có lẽ

Mùa thu đã đến...

Tôi hắt hơi.

 

52

Buổi chiều, gió...

Nước

Vỗ vào chân con diệc.

 

53

Cao trên trời

Ngỗng bay như xếp chữ...

Trăng đóng dấu bên cạnh.

 

55

Qua đồng hoang...

Tôi cứ nghĩ

Như có ai đang đi sau tôi.

 

59

Rạng sáng...

Không bị chim cốc bắt

Con cá bơi trong vũng nước nông.

 

60

Trăng ngả về Tây

Bóng hoa

Đổ về Đông.

 

63

Cơn gió lạnh

Nhuộm trắng

Bầy chim bên hồ nước.

 

68

Mùa đông, lạnh...

Đắp chăn lên đầu

Hay chân?

 

69

Bị hạt mưa rơi trúng

Con sên

Vội khép vỏ.

 

70

Trong ao tù

Con ếch già thêm

Mỗi lần lá rụng.

 

71

Ngừng ngủ, ngừng bay

Con bướm nhỏ

Đậu lên chuông đại nhà chùa.

 

74

Cỏ dính sương mù

Nước lặng...

Tối rồi.

 

75

Dưới mưa mùa hè

Lối đi nhỏ

Mờ dần.

 

77

Trời mát...

Âm thanh tiếng chuông

Thong thả rời khỏi chuông.

 

78

Những lá cỏ non...

Tiếng thác nước

Nghe vừa xa vừa gần.

 

79

Con bướm trên tay tôi...

Nhẹ như không khí

Như không có gì.

 

80

Khi hoa anh đào rụng hết

Ngôi chùa trơ

Sau những cành lá trụi.

 

82

 

Thắp nến

Bằng lửa từ cây nến khác...

Đêm xuân.

 

88

Trăng trắng

Mỗi giọt sương

Trên ngọn gai.

 

97

Gió thổi từ phía Tây

Lá rụng

Dạt sang phía Đông.

 

 

                       

             Kobayashi ISSA 

            

            Kobayashi ISSA (1763 - 1827) là một trong ba nhà thơ chuyên viết Haiku lớn nhất Nhật Bản (cùng Bashô và Busôn). Lúc sinh ông có tên là Kôbayashi Nôbuyuki, con trai một gia đình nông dân ở tỉnh Naganô ngày nay. Cuộc đời ông đầy trắc trở, khi chếtđể lại một di sản thơ khổng lồ gồm hơn 20.000 bài Haiku, rất được độc giả, cả xưa lẫn nay, mến mộ. Khác với Bushô khắc khổ và Busôn triết lý, thơ ISSA đầy tính nội tâm và trắc ẩn, thường đi sâu và từng chi tiết nhỏ của cuộc sống. Bất chấp đời riêng đầy khó khăn, thơ ông trong sáng và hường sử dụng nhiều lối nói nông thôn giản dị.

 

 

1

Con sên nhỏ

Hãy leo lên đỉnh Phú Sĩ

Nhưng chậm thôi, chậm thôi.

 

2

Tôi chạm nhẹ nhàng

Vào mọi cái

Thế mà luôn bị gai châm.

 

3

Yên tĩnh...

Sâu dưới đáy hồ

Một núi mây.

 

5

Cả những giọt sương long lanh

Cũng có

Giọt lớn, giọt bé.

 

6

Tốt hay xấu, luôn tin vào Phật...

Tôi chia tay

Với năm sắp hết.

 

8

Bóng dây bầu

Chậm chạp bò

Trên thảm cói.

 

10

Với tay lấy chiếc gối...

Năm đã hết

Hay chưa hết?

 

11

Cả thế giới đầy sương

Một thế giới đầy sương, đúng thế

Tuy nhiên...

 

21

Đầu xuân...

Nhà sư

Giả vờ ngủ.

 

22

Thật tuyệt

Tia nắng sớm đầu xuân

Trong ngôi nhà nơi tôi sinh.

 

24

Xuân đến

Như từng đến

Cả nghìn vạn năm nay.

 

25

Mồng một Tết...

Mặt trời chiếu nghiêng

Trên nhà kho hàng xóm.

 

27

Bầu trời đầu năm...

Nếu không mưa

Mai lại lên đường.

 

30

Ngày xuân yên bình...

Ông sư trên núi

Nhìn trộm qua hàng rào.

 

41

Ai kia

Trong sương mù

Vừa đi vừa hát?

 

42

Hôm nay, cả hôm nay

Chìm trong sương mù...

Ngôi nhà nhỏ.

 

43

Những tấm bia mộ

Không già hơn

Trong ngày sương mù.

 

45

Ngày đầy sương...

Cây thông đứng buồn

Sau quán trọ.

 

56

Con chó mẹ

Nhúng chân đo độ sâu...

Tuyết tan.

 

59

Ai kia đang đứng

Sau tán lá xanh...

Bầy quạ bay trên vũng nước nông.

 

60

Gió thổi, mây bay...

Những đám cháy trên đồng

Mang hoàng hôn đến.

 

61

Khi cây thông non này

Lớn lên, nở hoa

Ai sẽ ở đây?

 

66

Con gà lôi

Nhón chân

Nhìn tôi.

 

69

Đàn ngỗng vừa bay vừa kêu

Để lại nước Nhật

Rất xa phía sau.

 

71

Con ngỗng

Nhón chân -

Nên bay hay chưa?

 

72

Ao cũ

Mời thầy Bashô đi trước

Con ếch nhảy xuống nước.

 

74

Màu xanh nhạt

Con ếch lắm lời

Nhảy lên lá sen...

 

83

Cây mận đỏ ra hoa...

Con chó mới tắm

Sưởi nắng bên thềm.

 

88

Thật thà mà nói

Tôi thích bánh bao

Hơn hoa mận.

 

97

Thiếu anh

Rừng anh đào

Mới rộng làm sao.

 

98

Từ ngày thầy tôi chết

Hoa anh đào

Trở nên bình thường.

 

101

Bên phải - trăng

Bên trái - nước...

Cây liễu giữa đêm đen.

 

103

Đêm hè

Trăng bên sông

Như lát bánh cắt.

 

106

Mưa tháng Năm...

Đêm, trên nương lúa

Có tiếng người nói chuyện.

 

125

Hát khẽ thôi

Chim cu...

Nhà võ sĩ đạo đang ngồi bên.

 

126

Khi ngón tay bình minh

Khẽ chạm vào cây liễu

Chim cu kêu.

 

127

Giữa trưa...

Bầy muỗi

Nấp sau lưng tượng Phật.

 

128

Những cánh hoa mẫu đơn

Rơi ngổn ngang...

Chiếc chổi quét.

 

140

Bị sờ nắn, chèn ép

Nấm ở Êđô

Chuyển sang màu đỏ.

 

145

Nhìn núi

Nhìn biển...

Chiều thu.

 

146

Trong giỏ

Cua đạp lên nhau...

Đêm thu.

 

964

Tôi ngồi so

Bàn tay nhăn nheo với quả mận muối...

Cơn mưa đông đầu mùa.

 

977

Có cái gì cổ xưa

Trong làn khói đang bay...

Đã mùa xuân.

 

982

Cổng sau

Tự mở...

Một ngày dài.

 

983

Theo cách nghĩ

Của cú mèo

Ngày nào cũng dài.

 

1008

Ở đâu có người

Ở đấy có ruồi

Và Phật.

 

           

            Taneda SANTOKA

            Taneda Santōka, tên khai sinh là Taneda Shōichi, sinh ngày 3 tháng Mười Hai năm 1882 và mất ngày 11 tháng Mười năm 1940. Năm 1902, ông vào học khoa văn  trường Đại học tổng hợp Waseda, Tôkyo. Ở đây, ông bắt đầu nghiện rượu và bỏ học năm 1904. Năm 1911 ông bắt đầu  dịch và in các tác phẩm của Ivan Turgenev và  Guy de Maupassant trên tạp chí văn học Seinen với bút danh Santôka (Lửa trên đỉnh núi). Cũng năm ấy ông gia nhập nhóm các nhà thơ haiku nơi mình sống.

Cuộc đời Santôka đầy trắc trở với việc làm và gia đình, chủ yếu vì tật nghiện rượu của ông. Ông còn bị nhà chức trách bắt giam một thời gian vì nghi là cộng sản. Năm 1924, đang lúc say bí tỉ, ông nhảy vào tàu hỏa, chắc với ý định tự tử, nhưng người lái tàu kịp dừng trong gang tấc. Sau đó ông được người ta đưa vào chùa Hôon-ji, nơi nhà sư trụ rì cho gia nhập Hội Thiền Huynh Đệ.

Năm 1926, ông lên đường thực hiện chuyến đi đầu tiên trong nhiều chuyến hành hương khất thực của mình kéo dài tới ba năm. Ông mặc áo cà-sa, độ mũ tre rộng vành che nắng và tay cầm chiếc bát xin ăn dọc đường. Đó là một phần quan trọng trong cách tu hành của các nhà sư Nhật Bản thời ấy. Qua các bài haiku và những đoạn nhật ký ông viết lúc đi khất thực, người đọc biết ông đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, vất vả, đôi khi cả sự khinh bỉ của người đời. Năm 1936, ông bắt đầu chuyến đi theo lộ trình của nhà thơ haiku vĩ đại Bashô (1644 – 1694) và chỉ quay về sau tám tháng một mình lang thang xin ăn khắp nước. Cuối cùng ông vào sống trong một ngôi chùa nhỏ gần thành phố Matsuyama và qua đời khi đang ngủ, ngày 10 tháng 10 năm 1940, để lại bảy tập thơ haiku nổi tiếng được viết theo thể tự do không niêm luật.     

1

Trời không mây

Nhìn qua cốc rượu mạnh

Trời thật sâu.

 

3

Vợ chồng cãi nhau

Đêm

Con nhện treo ngược.

 

4

Đường phố thật yên tĩnh

Một hố lớn

Đào trên bề mặt.

 

7

Mặt trời chói chang

Chân bước đi

Miệng xin ăn..

 

9

Cơ thể này

Còn sống

Tôi gãi nó.

 

10

Phản chiếu

Dưới nước

Một người đi trên đường.

 

12

Đường chạy thẳng

Về phía trước

Tôi bước một mình.

 

13

Để con chuồn chuồn

Đậu lên mũ

Tôi đi tiếp.

 

14

Tôi tiếp tục đi

Hoa huệ

Tiếp tục nở.

 

15

Tôi trượt

Ngã sầy chân

Núi vẫn lặng im.

 

16

Chân sầy trợt

Con chuồn chuồn

Đậu lên.

 

23

Chiếc áo nhà sư của tôi

Rách thế này đây...

Những hạt cỏ.

 

24

Say mèm

Tôi ngủ

Cùng những con dế.

 

25

Ấm. Ai đó

Đắp chiếc chiếu

Lên người tôi.

 

32       

Trong phòng tắm

Đàn ông và đàn bà cãi nhau

Về các bức ngăn.

 

40

Không còn nhà nào nữa

Để gõ cửa xin ăn...

Mây trên núi.

 

43

Trời không mưa

Cũng chẳng sao...

Nhưng trời mưa.

 

44

Nền đất lạnh, rất lạnh

Kệ

Tôi cứ giao thân tôi cho nó.

 

45

Tâm trạng ủ ê...

Thì gột cái ủ ê ấy

Bằng nước tắm.

 

52

Nấu một mình

Ăn một mình

Bát canh Năm Mới.

 

57

Mình tôi

Nhóm lửa

Cho mình tôi.

 

58

Trời mưa...

Người đàn bà trên gác

Huýt sáo một mình.

 

59

Mây lạnh

Không hiểu sao

Cứ bay đi vội vã.

 

60

Đi giữa trời mưa phùn...

Phía sau

Trông mình thế nào nhỉ?

 

62

Mưa đá

Rơi gần đầy chiếc bát

Tôi dùng để xin ăn.

 

70

Lủi thủi đi

Giữa đường núi

Lủi thủi nói chuyện một mình.

 

75

Nước in bóng cây

Và bóng mây...

Con mèo chết trôi qua.

 

76

Đâu đó

Trong đầu tôi

Con quạ đang kêu.

 

84

Cả kiến

Cũng đi bộ

Suốt ngày trên núi.

 

100

Suy cho cùng

Một mình là tốt nhất...

Cỏ dại.

 

102

Một ngày trời ấm

Hơn thế

Trên tay có cái ăn.

 

114

Chẳng còn gì nữa

Ngoài cái chết...

Núi lờ mờ trong sương.

 

122

Không muốn chết

Không muốn sống...

Gió thổi trên đầu.

 

133

Một cây ngã

Chắn đường...

Thì ngồi lên nó.

 

134

Cây măng

Đang dần trở thành cây tre...

Thế là tử tế.

 

143

Cú mèo theo cách cú mèo

Tôi theo cách tôi

Không ngủ được.

 

Thái Bá Tân

Dịch từ tiếng Anh

Cập nhật ( 29/08/2011 )
 
< Trước   Tiếp >
blog comments powered by Disqus