Trang chủ arrow Thơ sáng tác arrow CỰU ƯƠC
CỰU ƯƠC PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân   
22/05/2012

 

Thái Bá Tân

CỰU ƯỚC        

 

1.     Kinh Thánh

 

Kinh Thánh có hai cuốn,      

Như ta biết xưa nay -

Cựu Ước và Tân Ước,

Con chiên đọc hàng ngày.

 

Là Kinh Do Thái Giáo,

Cựu Ước có từ lâu,

Bao gồm rất nhiều Sách

Bắt đầu từ Khởi Đầu,

 

Từ Thiên Chúa sáng thế,

Đến họ tộc loài người,

Sách Ngũ Kinh, Ngôn Sứ,

Sách Giáo Huấn dạy đời...

 

Còn cuốn Kinh Tân Ước

Nói về Chúa Ki Tô.

Nội dung gồm bốn quyển

Được viết bởi tông đồ.

 

Còn có Sách Công Vụ,

Sách Thư các thánh hiền.

Cuối cùng là cuốn sách

Gọi là Sách Khải Huyền.

 

2.     Sáng Thế

 

Lúc khởi đầu, Thiên Chúa

Tạo ra Đất và Trời.

Không hình hài, trống vắng,

Bóng tối trùm khắp nơi.

 

Thần khí của Thiên Chúa

Bay trên nước là là.

Ngài phán: Cần Ánh Sáng!

Và Ánh Sáng hiện ra.

 

Thấy Ánh Sáng là tốt,

Ngài phân chia, tách rời

Ánh Sáng và Bóng Tối

Cũng như Đất và Trời.

 

Thiên Chúa đặt tên gọi

Như ta biết ngày nay:

Đêm là khi trời tối,

Còn khi sáng là Ngày.                          

 

Và đó là kết quả

Ngày Sáng Thế đầu tiên.

Ngày thứ hai Thiên Chúa

Tạo Bầu Trời vô biên.

 

Ngày thứ ba Thiên Chúa

Tạo nên lớp Đất dày,

Rồi Đại Dương và Biển,

Tất cả các Loại Cây.

 

Ngày thứ tư, Thiên Chúa

Tạo Mặt Trăng, Mặt Trời

Và các Ngôi Sao sáng

Để có sáng khắp nơi.

 

Ngày thứ năm, Thiên Chúa 

Tạo ra các loài Chim,

Cá và sinh vật biển,

Biết bay, biết lặn chìm.

 

Ngày thứ sáu, Thiên Chúa,

Làm việc không nghỉ ngơi,

Tạo nên các Loài Vật,

Tạo nên cả Con Người.

 

Ngày thứ bảy Ngài nghỉ.

Công việc đã làm xong.

Việc Sáng Thế kết thúc,

Và Ngài rất hài lòng.    

 

Đó là ngày Sabath,

Ngày nghỉ của Chúa Trời,

Ngày thiêng liêng, sau đó

Là ngày nghỉ của Người.

 

 

3. A-đam và Ê-va

 

A-đam, như ta biết,

Là con người đầu tiên

Được Chúa vắt từ đất

Rồi hà hơi mà nên.        

 

Con người này đặc biệt

Vì Thiên Chúa thông minh

Đã tạo nên theo đúng

Hình mẫu của chính mình.

 

Ngài tạo khu vườn đẹp,

Gọi là Vườn Địa Đàng,

Có nhiều cây xanh tốt,

Nhiều hoa, trái chín vàng.

 

Chính giữa khu vườn ấy

Có một cây Trường Sinh

Và một cây Tri Thức,

Ai ăn nó, tự mình

 

Sẽ nhận biết Điều Tốt

Và Điều Không Tốt Lành.

Ngài cho A-đam sống

Ở vườn này tươi xanh.

 

Ngài dặn, ông có thể

Muốn ăn gì thì ăn,

Nhưng ăn trái Tri Thức,

Sẽ chuốc vạ vào thân.

 

Thiên Thần phán: không tốt

Khi Người Nam một mình.

Ta cho nó Người Nữ,

Dịu dàng và tươi xinh.

 

Rồi Ngài làm phép lạ,

Bắt A-đam ngủ say,

Rút chiếc xương sườn nhỏ,

Và từ khúc xương này

 

Ngài làm nên Người Nữ,

Đặt tên là Ê-va.

Người Nam là nam giới,

Người Nữ là đàn bà.

 

Và rằng thịt của thịt, 

Xương thịt của một người,

Người Nam và Người Nữ

Phải yêu nhau suốt đời.        

 

Trong số các loài vật,

Rắn là loài xấu xa.

Nó xúc xiểm, xu nịnh,

Kẻ thù của đàn bà.    

 

Nó đến tìm Người Nữ,

Xúi bà ăn trái cây

Mọc trên cây Tri Thức,

Vì ăn nó, sau này

 

Bà sẽ thành thông thái,

Biết phân biệt cho mình

Cái Thiện và Cái Ác,

Như các đấng thần linh.       

 

Ê-va, dẫu còn sợ

Và chưa hết phân vân,

Nhưng do Rắn dụ dỗ,

Cuối cùng bà đã ăn.

 

Bà ăn trái cây cấm,

Lại còn đem mời chồng.

Ăn xong, họ xấu hổ

Khi thấy mình tồng ngồng.  

 

Họ vội vã bẻ lá

Thay áo, quấn quanh người.

Sau đó, Thiên Chúa gọi,

Họ không dám trả lời.

 

Nhưng Ngài đã đoán hiểu

A-đam và Ê-va

Đã ăn trái cây cấm,

Nên giờ không dám ra.         

 

Người Nữ đổ cho Rắn.

Người Nam đổ cho bà.

Thiên Chúa rất tức giận,

Và trừng phạt cả ba.

 

Loài Rắn bị nguyền rủa,

Phải trườn, bò suốt đời,

Luôn luôn bị săn đuổi,

Kẻ thù của loài người.

 

Hai người bị Chúa phạt

Vì ăn trái cây này.

Họ và con cháu họ

Phải vất vả từ nay

 

Làm việc để kiếm sống,

Không được ở thiên đường,

Chịu mọi thứ bệnh tật

Và khó nhọc đời thường.                         

 

Đàn ông phải tranh đấu

Vật lộn vì miếng ăn.

Đàn bà khi sinh đẻ

Phải đau đớn, nhọc nhằn.

 

Hơn thế, ăn trái cấm,

Lại còn đưa cho chồng,

Đàn bà phải phụ thuộc

Và hầu hạ đàn ông.

 

Hai người bị Thiên Chúa

Đuổi khỏi Vườn Địa Đàng,

Xuống sống nơi hạ giới

Giữa trời nắng chang chang.

 

 

4. Chiếc thuyền của Nô-ê

 

Con cháu và chút chít

Của A-đam, Ê-va

Về sau thành hư hỏng,

Độc ác và xấu xa.

 

Thiên Chúa lấy làm tiếc

Đã tạo ra loài người.

Và rồi Ngài quyết định

Xóa sổ họ trên đời.

 

Nhưng Ngài không nỡ giết

Một người tốt mọi bề,

Luôn nghe lời Thiên Chúa,

Là ông già Nô-ê.

 

Ngài bảo ông chuẩn bị

Chiếc thuyền lớn, và rồi

Đưa loài vật lên đó,

Cứ mỗi loài một đôi.

 

Tức có đực, có cái

Để nhân giống sau này,

Vì Ngài sẽ làm lụt

Kéo dài bốn mươi ngày.       

 

Ông Nô-ê lúc ấy

Sáu trăm tuổi có thừa,

Làm đúng điều Chúa dặn,

Rồi sau đấy trời mưa.

 

Mưa tầm tã không dứt,

Như nước xối ào ào,

Làm ngập hết đồng ruộng,

Cả những ngọn núi cao.

 

Ông Nô-ê và vợ,

Cùng ba người con trai

Và một đôi đực cái

Của tất cả các loài

 

Vẫn bình yên vô sự

Khi ngồi trong chiếc thuyền.

Nước dâng cao, dâng mãi,

Nhưng cũng nâng thuyền lên.

 

Cuối cùng thì nước rút.

Con thuyền của Nô-ê

Trên núi Ararat,

Nước còn trắng bốn bề.

 

Lênh đênh mười một tháng

Kể từ ngày trời mưa,

Ông thả chim câu trắng

Xem nước rút hết chưa.

 

Con chim bay một chốc

Lại quay về với ông.

Nước còn chưa rút hết,

Còn phải chờ trong lồng.

 

Một tuần sau, được thả,

Nó bay đi rất nhanh,

Lúc quay về, miệng ngậm

Một cành ô-liu xanh.

 

Đợi thêm bảy ngày nữa,

Ngồi trên thuyền, Nô-ê

Lại thả chim câu khác,

Nhưng nó không quay về.

 

Nghĩa là nước đã cạn.

Ông và cả gia đình

Bước xuống đất, xúc động,

Tạ ơn Chúa lòng lành.         

 

Các loài chim, loài thú

Lần lượt ra từng đôi,

Bắt đầu cuộc sống mới

Rồi phát triển, sinh sôi.

 

5


 

 
< Trước   Tiếp >
blog comments powered by Disqus