Trang chủ arrow Thơ sáng tác arrow DANH NHÂN LỊCH SỬ VIỆT - 1
DANH NHÂN LỊCH SỬ VIỆT - 1 PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân   
26/07/2012
Thái Bá Tân
DANH NHÂN LỊCH SỬ VIỆT

______________________


 LỜI TÁC GIẢ

Tập thơ nhỏ này gồm những truyện thơ ngắn tóm lược về cuộc đời và sự nghiệp những vị vua và những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử nước Việt.

Tác giả cố trình bày một cách ngắn gọn, dễ hiểu và dễ nhớ theo lối diễn ca, nhằm giúp các cháu nhỏ bước đầu làm quen với lịch sử nước nhà.

Nguồn được lấy chủ yếu từ Wikipedia, tạm coi là chính sử, dù đôi khi chưa đầy đủ và còn có chỗ gây tranh cãi.

Vì viết lại sử bằng thơ, tác giả tôn trọng các số liệu và sự thật, chủ trương không bình luận và nhận xét ngoài lề.

Chắc còn nhiều điều khiếm khuyết, mong được lượng thứ.

Hà Nội, 30. 3. 2012
    
Thái Bá Tân    


Phần Một

CÁC VUA HÙNG (2879 - 258 trước Công Nguyên)

1
Hơn bốn nghìn năm trước
Đế Minh, cháu Thần Nông,    
Đi chơi vùng Ngũ Lĩnh,
Gặp nàng Vũ tiên rồng.

Kết quả mối tình ấy
Là một người con trai,
Đặt tên là Lộc Tục,
Quả một đấng anh tài.

Lộc Tục là con thứ,
Đế Minh cho làm vương
Của nước Nam, Xích Quỉ,
Được ví như thiên đường.

Đế Nghi, anh Lộc Tục,
Con trưởng của Đế Minh
Được làm vua phương Bắc,
Thuận lý và thuận tình.    

Khi lên ngôi, Lộc Tục
Trở thành Kinh Dương Vương,
Vị Vua Hùng thứ nhất
Của một nước hùng cường.

Một lần, Ngài thăm thú
Sông nước hồ Động Đình,
Gặp và lấy Long Nữ,
Con gái vua Thủy Tinh.

Lạc Long Quân, con họ,
Thông minh và có tài,
Về sau nối ngôi bố
Thành Vua Hùng thứ hai.

Tiếp đến là câu chuyện
Lạc Long Quân, Âu Cơ,
Chuyện cái bọc trăm trứng
Truyền tụng đến bây giờ.    

Gần ba thiên niên kỷ
Có mười tám Vua Hùng
Kế tiếp nhau trị nước,
Tước hiệu và tên chung.

Theo một tài liệu sử
Đời vua Lê Đại Hành,
Con số mười tám ấy
Không phải “vua” mà “ngành”.

Mà mỗi “ngành” có thể
Có nhiều vua lên ngai.
Điều ấy giúp giải thích
Quãng thời gian quá dài.

Nước Việt ta thời ấy
Có tên là Văn Lang.
Dưới vua có Lạc tướng,
Lạc hầu và Lạc làng.

Nước có mười lăm bộ,
Giống như tỉnh bây giờ.
Đất Phong Châu trù phú
Được chọn làm kinh đô.

Theo lịch sử ghi lại,
Nước Văn Lang thời này
Đã biết dùng đồ sắt,
Trồng lúa nước, cấy cày.

Đã có sự phân biệt
Nhiều ngành nghề khác nhau.
Dân nước ta lúc đó
Đã có tục ăn trầu.

Xã hội được cơ cấu
Và tổ chức rõ ràng,
Có kỷ cương, pháp luật,
Từ châu xuống thôn làng.

2    
Để nhớ ơn tiên tổ,
Ngày mồng Mười tháng Ba
Nhân dân làm lễ cúng,
Gọi là Ngày Giỗ Cha.

Các Vua Hùng dựng nước,
Vậy thì ta, cháu con,
Phải lo mà giữ nước
Để nước mãi trường tồn.


MỴ CHÂU, TRỌNG THỦY

1
Xưa, ở nước Âu Lạc,
Vua là An Dương Vương
Muốn xây thành giữ nước.
Một việc rất bình thường.

Thành ấy hình xoắn ốc
Ở kinh đô Cổ Loa,
Phải cao và phải rộng,
Cấu trúc phải hài hòa.

Vua và dân xây mãi,
Thế mà không hiểu sao
Cứ ngày xây, đêm đổ,
Chẳng ai hiểu thế nào.

Vua lập đàn cầu tế,
Thần Kim Qui giúp ngài
Xây xong thành lũy ấy,
Vững chắc cả trong ngoài.

Xong, Kim Qui còn lấy
Một chiếc móng của mình
Đưa cho vua và nói
Nó sẽ giúp giữ thành.    

“Dùng nó làm lẫy nỏ,
Sẽ là chiếc nỏ thần,
Bắn trăm phát trăm trúng,
Một lúc giết nghìn quân.”

Vua liền sai Cao Lỗ,
Một người thợ thông minh,
Làm cho vua nỏ ấy,
Rồi luôn giữ bên mình.

Đó là chiếc nỏ đẹp
Và rất cứng, muốn dương,
Phải là tay lực sĩ
Có sức mạnh phi thường.        

Nước Nam Hải phía Bắc,
Đánh Âu Lạc nhiều lần,
Nhưng luôn chịu thất bại
Vì gặp phải nỏ thần.

Nên ông vua nước ấy,
Có tên là Triệu Đà,
Bèn phải tính kế khác -
Cho con sang giảng hòa.    

Đó là chàng Trọng Thủy,
Đúng một đấng mày râu,
Cha bắt sang Âu Lạc
Để cầu hôn Mỵ Châu.

Mỵ Châu là con gái
Của vua An Dương Vương,
Một công chúa trong trắng
Và xinh đẹp khác thường.

Vì thơ ngây, trong trắng,
Và cả tin, nên nàng
Đem lòng yêu Trọng Thủy,
Không biết mưu cha chàng.

Về phần mình, Trọng Thủy
Cũng yêu nàng thiết tha,
Tình yêu cũng trong trắng,
Bất chấp ý đồ cha.

Thấy Mỵ Châu, Trọng Thủy
Yêu thương nhau thực lòng,
An Dương Vương đồng ý,
Và họ thành vợ chồng.

Một đêm trăng tuyệt đẹp,
Hai người ngồi trước thềm.
Nước dưới hồ lấp lánh
Nghìn vạn ánh sao đêm.    

Rồi như thể nhân tiện,
Trọng Thủy hỏi vợ mình
Bí quyết nước Âu Lạc
Giữ vững được Loa Thành.

Nghĩ đã là chồng vợ,
Không giấu giếm điều gì
Mỵ Châu liền kể chuyện
Chiếc nỏ thần Kim Qui.

Hơn thế, còn lấy trộm
Chiếc nỏ từ phòng cha,
Hướng dẫn cách sử dụng,
Tỉ mỉ và thật thà.

Hôm sau chàng Trọng Thủy
Xin phép được lên đường
Quay trở về Nam Hải
Tham dự lễ Trùng Dương.

Trước khi đi, lưu luyến,
Chàng nói với Mỵ Châu:
“Sự đời khó biết trước,
Lần này ta xa nhau,    

Nhỡ can qua, ly biệt,
Khó biết đâu mà tìm.”
Mỵ Châu nói: “Nhà thiếp
Có chiếc áo lông chim.

Nếu không may loạn lạc,
Phải chịu cảnh tha hương,
Thiếp nhổ lông chiếc áo
Rồi bỏ lại dọc đường.

Theo đó mà tìm thiếp
Một khi chàng quay về.
Nói đoạn, nàng liền khóc,
Nước mắt chảy dầm dề.

Lại nói chàng Trọng Thủy
Về nước gặp Triệu Đà,
Kể hết về chiếc nỏ
Rồi đưa cho vua cha

Chiếc lẫy thần, chiếc móng
Của thần Rùa Kim Qui
Chàng đã lấy trộm được
Mà không ai biết gì.

Mấy tháng sau, Nam Hải
Với chiếc lẫy trong tay,
Cho quân đánh Âu Lạc,
Chắc thắng lợi lần này.        

Được tin giặc lại đến
Vua Việt, An Dương Vương,
Cậy nỏ thần vô địch,
Vẫn bình tâm như thường.

Nhưng khi đem nỏ bắn
Thì thấy mất lẫy thần,
Thành Cổ Loa thất thủ,
Vua phải trốn, thoát thân.

Chỉ một mình một ngựa,.
Người ngựa phóng như bay,
Sau lưng là con gái,
Liên tục suốt mấy ngày.        

Nàng Mỵ Châu lấy áo,
Nhổ lông rắc dọc đường.
Cuối cùng đến dãy núi,
Đêm vừa buông, mù sương.

Ngọn núi ấy gần biển,
Phía trước không đường đi.
Sau lưng giặc đang đuổi.
Vua không biết làm gì.

Ngài xuống ngựa, cầu khấn
Thần Kim Qui giúp mình.
Khấn xong, trời nổi gió,
Mặt biển chợt rùng mình.

Thần Kim Qui xuất hiện:
“Giặc đang ngồi phía sau!”
Vua Âu Lạc chợt hiểu,
Liền chém con đứt đầu.

Rồi ngài ôm con khóc,
Leo lên tảng đá cao,
Nhảy xuống biển tự tử.
Biển nổi sóng dâng trào.

Nhớ lời vợ, Trọng Thủy
Liền lên đường đi tìm.
Chàng cứ đi, đi mãi,
Lần theo vết lông chim.

Khi đến núi Mộ Dạ,
Chàng tìm thấy Mỵ Châu,
Người vợ chàng yêu quí,
Chết, mà không có đầu.

Chàng ôm vợ than khóc,
Day dứt và chân thành.
Rồi vội vàng lên ngựa
Đem vợ về kinh thành.

Chàng làm lễ mai táng
Theo nghi thức vương gia,
Rồi gieo đầu xuống giếng
Chết trong thành Cổ Loa.

Chiếc giếng ấy, được biết,
Đã trải qua nhiều đời.
Nghe nói lấy nước giếng
Rửa ngọc, ngọc sáng ngời.

2
Một chuyện tình thật đẹp,
Chân thành và trắng trong.
Mỵ Châu và Trọng Thủy
Đã yêu nhau thật lòng.

Hai người không có lỗi
Với những gì xẩy ra.
Người có lỗi duy nhất
Là ông vua Triệu Đà.

Vì mưu toan chính trị,
Ông giết con trai mình,
Giết luôn cả hạnh phúc
Trong trắng một mối tình.

Nàng Mỵ Châu tội nghiệp
Và cả An Dương Vương
Đều chết vì mắc bẫy
Một mưu mô tầm thường.

Âu chỉ còn biết tiếc
Xót thương cho ba người.
Âu cũng là bài học
Về cảnh giác ở đời.

Ngọn núi ấy, Mộ Dạ,
Nơi đức vua quyên sinh,
Cách chưa đầy cây số
Là làng tôi, Xuân Tình.

Ngày nhỏ cùng lũ trẻ
Đi chăn trâu hàng ngày,
Tôi leo trèo, nghịch ngợm
Trong đền thờ ở đây.

Đền thờ trên mõm núi,
Giữa rừng thông xanh rì.
Tất nhiên có Giếng Ngọc,
Có cả thần Kim Qui.

Giờ đầu hai thứ tóc,
Nhưng mỗi lần về quê,
Tôi vẫn leo lên viếng,
Dẫu khó nhọc, nặng nề.

Còn người thợ Cao Lỗ
Sau cũng chạy về đây
Mang theo nghề rèn đúc
Cho người dân nơi này.

Giờ ngài được thờ cúng
Như thành hoàng Nho Lâm,
Người đã mang cơm áo
Cho làng nhiều, nhiều năm.

Thắp hương vái các vị,
Tự nhiên thấy buồn rầu,
Như chạm vào quá khứ,
Một quá khứ buồn đau.



HAI BÀ TRƯNG (Mất năm 43 sau CN)

1
Gần hai nghìn năm trước,
Hai chị em Bà Trưng
Nổi lên chống quân Hán,
Hai vị nữ anh hùng.

Trưng Trắc là bà chị,
Trưng Nhị là bà em,
Làm rạng danh đất nước
Lúc ấy chìm trong đêm.

Họ lập đất nước mới,
Kinh đô ở Mê Linh,
Đuổi Thái thú phương Bắc,
Cai trị theo cách mình.

Đứng đầu đất nước ấy
Là hai vị nữ vương.
Xưa nay trong lịch sử,
Một sự kiện phi thường.

2
Quan Thái thú Tô Định
Khiến lòng dân bất yên.
Hắn giết chết Thi Sách,
Quan huyện lệnh Châu Diên.

Ông là chồng Trưng Trắc,
Trước đó từng bất bình
Với cách quan nhà Hán
Cai trị dân nước mình.

Vào đầu năm Canh Tý,
Tức là năm bốn mươi,
Hai chị em khởi nghĩa    
Thu hút rất nhiều người.

Trước hết đền nợ nước
Sau để trả thù nhà.
Nghĩa quân thắng dòn dã,
Nức lòng dân gần xa.

Nhiều châu quận hưởng ứng.
Sáu lăm thành đầu hàng.
Tô Định trốn về nước,
Nhục nhã và vội vàng.

Năm sau, triều đình Hán
Sai Mã Viện Phục Ba,
Lưu Long làm phó tướng,
Sang chiếm lại nước ta.

Mã Viện đi đường thủy,
Lưu Long đi đường rừng,
Gặp phải sự chống cự
Nghĩa quân Hai Bà Trưng.

Quân Mã Viện thế mạnh,
Áp tới tận La Thành
Nghĩa quân không chống nổi,
Rút lui bảo vệ mình.

Sau một năm cầm cự,
Dũng cảm và kiên cường,
Quân Hai Bà đành rút,
Binh sĩ chết đầy đường.

Cuối cùng đến Phúc Thọ,
Giặc dụ dỗ ra hàng,
Nhưng Hai Bà tuẫn tiết,
Nhảy xuống dòng Hát Giang.    

Ở đấy giờ đang có
Ngôi đền thờ Hai Bà,
Một tấm gương trung liệt,
Trả nợ nước, thù nhà.

3
Lại nói tướng Mã Viện,
Khi việc bình định xong,
Hắn ngạo nghễ cho đúc
Chiếc cột lớn bằng đồng.

Trên cột đồng hắn khắc
Hai dòng chữ sơn son:
“Khi cột đồng này gãy,
Đất Giao Chỉ không còn.”

Thật láo và hợm hĩnh
Viên tướng người Tàu này.
Cột đồng giờ chẳng thấy,
Nước Việt vẫn còn đây.

Hơn thế, còn hùng mạnh,
Đã đánh đuổi nhiều lần
Quân xâm lược phương Bắc,
Sợ không dám đến gần.



BÀ TRIỆU (225 - 248)

1
Nghe người ta kể lại,
Xưa ở quận Cửu Chân
Có một con voi trắng
To đẹp như voi thần.

Nó xuống núi phá phách,
Dẫm đạp hết mùa màng.
Nhiều khi còn táo tợn
Xông cả vào xóm làng.

Con voi thật to lớn,
Duy nhất chỉ một ngà.
Ai nhìn thấy cũng sợ,
Phải né tránh từ xa.

Thế mà một cô gái,
Xinh đẹp, để vai trần,
Quyết tay không bắt nó    
Để trừ hại cho dân.

Cô đi trước, khiêu khích,
Nhử nó ra đầm sình,
Rồi nhảy lên đầu nó
Đưa về nuôi nhà mình.    

Về sau, cô gái ấy
Chiêu quân chống giặc Ngô,
Luôn cưỡi nó ra trận,
Voi một ngà, khổng lồ.

Truyền thuyết còn kể lại
Rằng ngực cô rất dài,
“Dài tới hơn ba thước”,
Thường phải vắt lên vai.

Quân giặc nhìn, cả sợ,
Liền bỏ chạy thoát thân.
Cô gái ấy xinh đẹp,
Oai nghiêm như vị thần.

2
Cô gái trong huyền thoại,
Tên là Triệu Thị Trinh,
Một anh hùng dân tộc,
Dám vì dân quên mình.

Bà người huyện Yên Định,
Tỉnh Thanh Hóa bây giờ,
Không may bố mẹ chết
Khi đang còn trẻ thơ.

Anh bà, Triệu Quốc Đạt,
Nuôi em như mẹ hiền.
Ông là một hào trưởng,
Làm huyện lệnh Quan Yên.

Lớn lên, bà giỏi võ,
Có sức khỏe hơn người,
Lại nung nấu chí lớn
Muốn ra tay giúp đời.

Gặp người chị dâu ác,
Bà giết rồi trốn xa,
Lên rừng chiêu binh mã,
Hơn nghìn người theo bà.

Thấy giặc Ngô tàn ác,
Bà về bàn với anh
Cùng khởi binh chống lại,
Và được anh đồng tình.

Từ căn cứ Yên Định,
Nghĩa quân lấn đánh dần,
Chiếm quận lỵ Tư Phố,
Rồi cả vùng Cửu Chân.

Quốc Đạt lâm bệnh chết,
Bà cầm quân thay anh.
Ra trận mặc giáp bạc,
Cưỡi voi, cài trâm anh.

Trông bà thật lẫm liệt,
Xinh đẹp như nữ thần,
Nên người ta thường gọi
Là “Nhụy Kiều Tướng quân.”

3
Nghe tin có bạo loạn,
Vua Ngô rất lo âu,
Liền cử tướng Lục Dận
Làm thứ sử Giao Châu.

Cùng tám nghìn binh mã,
Theo đường bộ tới đây,
Hắn quyết tâm đàn áp
Cuộc khởi nghĩa lần này.

Hắn dùng tiền mua chuộc
Nhiều hào trưởng địa phương,
Hứa phong cho Bà Triệu
Chức Lệ Hải Bà Vương.

Tất nhiên Bà từ chối,
Nhất quyết không đầu hàng.
Nghĩa binh được khích lệ,
Tinh thần càng vững vàng.

Nhiều trận đánh ác liệt
Ở căn cứ Bồ Điền.
Nhưng do lực quá yếu,
Thiếu lương thực và tiền,

Nên chỉ sau hai tháng
Cầm cự rất kiên cường,
Thành Bồ Điền thất thủ,
Rơi và tay đối phương.

Bà Triệu đã tuẫn tiết
Trên núi Tùng đầy mây.
Nó ở xã Triệu Lộc,
Huyện Hậu Lộc ngày nay.

Bà mới hăm ba tuổi,
Chết, để lại tấm lòng
Và chiến công hiển hách,
Sống mãi với non sông.

 
< Trước   Tiếp >
blog comments powered by Disqus