|
Trang 1 / 2 Lê Thánh Tông Tác giả: sinh năm 1442, mất 1497, tên thật là Lê Tư Thành, hiệu là Thiên Nam Động chủ, con trai thứ tư của vua Lê Thái Tông. Ông là nhà vua - thi sĩ, có công lớn với đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực văn hoá. Tác phẩm: hàng trăm bài thơ chữ Hán, mấy chục bài thơ Nôm và một số bài phú nổi tiếng. Đạo trung thần(1)
Đức của người phò tá Là giữ đạo trung thần. Cái điều cao đẹp ấy Xa lạ với tiểu nhân. Thảnh thơi(2)
Du Lượng(3) thôi chức lớn, Chỉ lên lầu ngồi chơi. Khi không màng danh vọng, Tự nhiên lòng thảnh thơi. Đình Ngư Phủ
Khuất Nguyên(4) bị đuổi, buồn day dứt, Lòng nặng mối lo vận nước nhà. Bài thơ ngư phủ chưa ngâm trọn, Đã tự gieo mình xuống Mịch La. Bài thơ mừng lúa tốt(5)
Một màu xanh biếc trải mênh mông. Nuôi dân phải nhớ trọng nghề nông. "Năm nay lúa tốt hơn năm ngoái!" Mấy lão nông phu đứng ngắm đồng. Dừng chân ở núi Cổ Qúy(1)
Gió thổi, cờ bay giữa nắng tà. Lá đỏ còn hơn hoa tháng Ba. Đời người nhìn lại, không như trước. Vui buồn trăm mối, rối lòng ta. Đi tuần phía đông, dừng lại ở Đồng Cảng(2)
Vùng biển, gạo như ngọc. Cá rẻ như cho không. Thấp thoáng chim về tổ. Hoàng hôn, mặt trời hồng. Đậu thuyền dưới chân chùa Quang Khánh(3)
Ngoài vườn chim hót, gió hây hây. Trời xế, mặt đường phủ bóng cây. Sẵn rượu làm sao không cạn chén - Ai sống ở đời thoát cái say? Qua bến Phù Tang(1)
Trên bến Phù Tang mưa lắt lay. Tiết xuân, trời đất ấm từng ngày. Chỉ thương những kẻ ham danh lợi, Quên đời trôi thoáng tựa làn mây. Qua đền Hưng Đạo vương(2)
Lá đỏ trên cây khẽ xạc xào. Trời đầy mây trắng, nắng xôn xao. Tượng đá, chùa đây, người chẳng thấy, Chỉ thấy bên ngoài rặng núi cao. Dừng lại ở Xương Giang(3)
Nắng chiều, nửa núi xạm dần đen. Hai bờ như có khói bay lên. Sách xưa đọc mãi mà không hết, Dù đã mười năm đọc trước đèn. Bến cảng Vân Đồn(4)
Nắng chiều óng ả, bến bình yên. Con thuyền lướt nhẹ, nước đang lên. Gái trai bên biển cười vui vẻ, Át cả gió reo trước mũi thuyền. Bãi Đông Ngạc(1)
Thơ làm xong, đi ngủ. Trăng nhú nơi chân trời. Hoa rụng bao tình ý, Khẽ chạm vào áo người. Đêm cắm thuyền ở bãi Trung Giang(2)
Không gió, không sương, đêm tĩnh yên. Ngồi đợi bình minh trước mũi thuyền. Sắp sáng, hé nhìn qua cửa sổ, Dòng sông phẳng lặng, nước triều lên. Qua núi Điệp Sơn(3)
Triều dâng, sông đỏ gặp sông vàng.(4) Liễu thêm xanh biếc lúc xuân sang. Thuyền ghé, khách thơ bèn ướm hỏi Chuyện xưa, tên núi lẫn tên làng. Thác nước
Từ trên đổ xuống, nước như mây, Âm vang trắng xóa suốt đêm ngày. Cảnh xuân bị cuốn trôi theo nước. Mấy ai để ý thấy điều này. Con trai, con gái ở Lỵ Nhân(1)
Trên đê trời lạnh, sắp sang xuân. Đẹp như mỹ nữ nước Yên, Tần, Ở đây con gái xinh, hiền dịu. Xấu hổ con trai, chẳng dám gần. Ốm dậy, cảm hoài
Hôm nay có lẽ bệnh thuyên dần. Suốt ngày thư thái dạo quanh sân. Nhờ thuốc, nên vui vì khỏi bệnh, Tiếc chẳng có gì níu tuổi xuân. Ngày xuân, mới ốm dậy
Chỉ một mình, ốm yếu, Dạo nhiều vòng quanh sân. Oanh hót vang, xin hỏi: Cho ai chim gọi xuân? Thơ đề trên quạt
Nam Huân gác tía giữa ban ngày, Nhẹ nhàng quạt lụa phẩy trên tay. Gió mát hiu hiu, trưa ngủ thiếp, Không biết mồ hôi của dân cày. Đề nơi chốn mây nước của đạo sĩ (bài một)
Tuổi già ẩn dật chốn thâm u, Trút bỏ áo quan, chiếc áo tù. Lấy sự vô tâm làm tâm đắc, An nhàn tiếp bạn, tiếp nhà tu. Đề nơi chốn mây nước của đạo sĩ (bài hai)
Non sông tít tắp một màu xanh. Mây chiều ráng đỏ, nước long lanh. Chỉ tiếc không tài như tạo hóa, Đưa hết cảnh này vào bức tranh. Đề nơi chốn mây nước của đạo sĩ (bài ba)
Thấp thoáng ngôi nhà giữa núi mây - Chắc am ẩn sĩ ở nơi này. Chiều xế, trời quang, cơn gió thổi. Ráng trời soi nước, bóng chim bay. Đề nơi chốn mây nước của đạo sĩ (bài bốn)
Thuyền trong tán lá, cánh chim hồng. Gác chèo, gió nhẹ, nước mênh mông. Mây trắng chợt rơi vào cốc rượu. Ráng chiều như máu nửa dòng sông. Đề chốn mây nước của đạo sĩ (bài năm)
Mấy gian nhà nứa gối hồ sen. Không vướng bụi trần, lòng tĩnh yên. Đời sau chắc chẳng mong hơn thế, Khi đến nơi này, nơi cõi tiên. Đề nơi chốn mây nước của đạo sĩ (bài mười bảy)
Bóng tre râm mát, nắng lung linh. Ve kêu ngày hạ thật vô tình. Vừa mới thiu thiu thì chợt tỉnh. Sen nở làm chim khẽ giật mình. Thơ đề chốn mây nước của đạo sĩ (bài hai mươi tư)
Hai bờ lau nở, trắng như bông. Sông vén màn đêm, chảy phía đông. Nỗi buồn du khách, vành trăng sáng Như chiếu xuyên qua, thấu nỗi lòng. Thơ đề ở động Bạch Nha(1) Năm Quang Thuận thứ 8 (1467)
Lô xô núi biếc giữa nắng tà. Tiết trời dìu dịu, lá xen hoa. Mây che cửa động, ngôi chùa cổ. Xuân về, gió lặng, tiếng chim ca. Từ thuở hỗn mang trời đã tạo, Quỉ thần đẽo gọt mãi mà ra. Chắc Nữ Oa(2) thương, không động đến, Để ghi công đức của triều ta. Thơ đề trên núi Dục Thúy(1) Năm Quang Thuận thứ 8 (1464)
Dục Thúy nằm kề ba khúc sông. Đỉnh cao lạnh lẽo vút lên không. Leo lên theo gió bên chùa cổ, Bia đá xế chiều mới đọc xong. Xuống hang, cứ tưởng trời không rộng. Lên cao mới biết đất mênh mông. Núi sông vẫn thế, không thay đổi. Như mơ, ngoái lại, thấy anh hùng. Lên núi Long Đọi(2) đề sau tấm bia Bảo tháp Sùng Thiện Diêu Linh
Núi cao, chùa cổ đứng chơi vơi. Đường đá leo hoài mới tới nơi. Giặc Minh phá hết, còn bia đó. Vua Lý ghi bao chuyện lạ đời. Đường ít vết chân, rêu phủ kín. Núi nhiều mưa ẩm, cảnh xinh tươi. Lên cao, tầm mắt nhìn, vô tận Cây cỏ xanh xanh đến cuối trời. Thơ khắc ở cột chùa Tu Mộng(1)
Chùa cổ nghiêng xiêu đã nửa phần. Sư dắt thăm chùa, nhẹ bước chân. Chân sư dễ vượt vòng đai giác. Ta bước đường đời thật khó khăn. Ngũ viên mạnh mẽ mà không sắc. Lục độ sáng ngời vẫn có nhân. Thấy khách cúi đầu như giác ngộ, Sư thôi không giảng, lặng im dần.
|