Thơ dịch
Thơ thiền Lý Trần - Cổ thi Tác dịch | Thơ thiền Lý Trần - Cổ thi Tác dịch |
|
|
|
| Người viết: Thái Bá Tân | ||||||
| 28/10/2006 | ||||||
Trang 1 / 4 Lời người dịch (Cho lần xuất bản cuốn Cổ Thi Tác Dich thứ nhất 2001) Tôi thuộc lớp người hậu sinh, Tây học, mấy chục năm qua chỉ chuyên dịch văn thơ phương Tây, gần đây mới bắt đầu đọc nhiều và thấm thía dần cái đẹp, cái sâu lắng của thơ cổ phương Đông, đặc biệt là thơ chữ hán của các tác giả cổ điển Việt Nam và Trung Quốc. Tôi coi đó là sự thiệt thòi và lỗ hổng lớn về kiến thức. Dẫu không biết chữ Hán và sự hiểu biết về vốn cổ cũng hạn chế, càng đọc, tôi càng nung nấu ý nghĩ phải làm một cái gì đó lớn hơn sự thưởng thức đơn thuần đối với mảng thơ tuyệt vời này. Tập thơ các bạn đang cầm trên tay là kết quả của ý định đó. Tôi nghĩ ưu điểm lớn nhất của bản dịch này là lần đầu tiên người đọc có thể trực tiếp thưởng thức qua bản dịch chứ không cần tham khảo bản dịch nghĩa như xưa nay vẫn làm, vì mỗi bài dịch đã là một tác phẩm hoàn chỉnh với đầy đủ các yếu tố cần thiết để làm nên một bài thơ hay – ấn tượng, vần điệu, hình ảnh. Chuyển đạt những yếu tố trên, chứ không đơn thuần ý tưởng, là khâu khó nhất khi dịch, và cũng là mục tiêu cao nhất của tôi. Cuối cùng, tôi chân thành cảm ơn tác giả các công trình nghiên cứu, các bản dịch nghĩa và dịch thơ mà tôi tham khảo trong quá trình làm việc, cũng như các chuyên gia văn học, ngôn ngữ và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ. Hà Nội 30.9.1997 _________________________ Tác giả: (1019-1105) anh hùng dân tộc, tên thật là Ngô Tuấn, Thường Kiệt là tên tự, sau được ban quốc tính họ Lý, thành Lý Thường Kiệt; quê ở Thăng Long; có tài thao lược, giỏi văn thơ; có công lớn trong việc xây dựng đất nước, đánh Tống, bình Chiêm.
Vua Nam cai trị nước Nam này,
Tác giả: (915-990), không rõ tên thật và quê quán, là nhà thơ thế hệ thứ 10 dòng thiền Nam Phương, có kiến thức uyên bác, giỏi thơ văn, tích cực tham gia phò nhà Tiền Lê, được vua Lê Đại Hành phong làm Pháp sư.
Ngôi nước như rồng cuốn.
Tác giả: tức Khuông Việt (933-1011), người Cát Lợi, huyện Thường Lạc, nay là Tĩnh Gia, Thanh Hóa, lúc nhỏ học đạo, lớn lên đi tu. Do nổi tiếng tinh thông Thiền học nên được Đinh Tiên Hoàng ban cho hiệu là Khuông Việt đại sư.
Trong gỗ luôn có lửa,
Tác giả: tức Huệ Sinh (?-1063), người làng Đông Phù Liệt, huyện Long Đàm, nay thuộc ngoại thành Hà Nội, 19 tuổi đi tu. Ông từng trụ trì nhiều nơi, được vua Lý Thái Tông yêu mến, phong đến chức Tả nhai đô tăng thống.
Vạn vật không mà có,
Tác giả: sinh 1041, mất 1113, người hương Phù Đổng, huyện Tiên Du, là con gái đầu của Phụng Càn vương, được vua Lý Thánh Tông nuôi dạy trong cung. Cuối đời di tu, pháp danh là Ni sư Diệu nhân. Bà và ỷ Lan phu nhân là hai nữ sĩ nổi tiếng đời Lý. Ngoài bài thơ này còn lưu được một bài kệ nói về bốn nỗi khổ của kiếp người.
Sinh lão và bệnh tử,
Tác giả: Sinh 1049, mất 1117, không rõ tên thật là gì, người ở đất Lụy Châu nay thuộc vùng Hà Bắc. Đi tu từ lúc 20 tuổi. Cuối đời ông trụ trì ở chùa Tổ Phong, núi Thạch Thất và mở trường dạy học ở đấy.
Có sinh, ắt có tử.
Tác giả: Không rõ năm sinh, chỉ biết mất 1119, người hương Hải Thanh, nay thuộc tỉnh Hà Nam, tổ tiên vốn làm nghề chài lưới, sau ông bỏ đi tu. Ông chuyên nghiên cứu về Thiền Tông và Mật Tông, cùng Thiền sư Giác Hải thường du ngoạn những nơi danh lam thắng cảnh.
Sông xanh muôn dặm, trời muôn dặm.
Tác giả: Tức Lý Nhân Tông (1066-1128), là con trưởng của Lý Thánh Tông và ỷ Lan Phu nhân, lên ngôi năm 7 tuổi, làm vua 56 năm, được xem là ông vua nhân ái và có tài.
Giác Hải lòng như biển.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, thân thế sự nghiệp cũng không rõ, chỉ biết làm tới Thượng thư bộ Công dưới triều Lý Nhân Tông (1072-1128). Chống gậy lên cao, rũ bụi trần,
Xa lánh kinh thành, sống thảnh thơi.
Nổi danh ngoài nội lẫn trong triều.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết sống cùng thời và là bạn của Từ Đạo Hạnh. Bản thân ông cũng là một thiền sư.
Cái thiền, cái đẹp, cả lời ca,
Tác giả: tức Từ Đạo Hạnh, không rõ nơi, năm sinh, mất 1117. Ông là nhà sư thế hệ thứ 12 dòng thiền Nam Phương, tu ở chùa Thiên Phúc trên núi Phật Tích, châu Quốc Oai, nay là huyện Quốc Oai, Hà Tây.
Có, từ hạt bụi nhỏ.
Thu về không báo nhạn cùng bay.
Tác giả: (1072-1136), người đất Như Nguyệt, có lẽ nay là Bắc Giang, tu ở chùa Đại An, thuộc huyện Tế Giang xưa, có nhiều học trò theo học.
Lục thức(1) làm ta vướng sự đời.
Tác giả: tức Bảo Giám, không rõ năm sinh, mất 1173, người huyện Trung Thụy, đời Lý Anh Tông, làm quan đến chức Hậu xá nhân, năm 30 tuổi từ quan, đến tu ở chùa Bảo Phúc, nay thuộc tỉnh Hòa Bình, sau ông trụ trì chùa này.
Mấy ai thành Phật nhờ đi tu, |
||||||
| < Trước | Tiếp > |
|---|


