|
Thái Bá Tân ĐIỀN VIÊN TỨ TUYỆT (105 bài thơ bốn câu) __________________________________________ 1 Trên đường từ cầu Chương Dương đến làng gốm Bát Tràng (Bài một) Đê xanh, nước đục, mặt trời hồng, Cô gái chèo thuyền dọc mép sông. Giờ thổi cơm chiều, than chưa cháy, Thuyền đi, khói đứng lặng trên không. 2 Trên đường từ cầu Chương Dương đến làng gốm Bát Tràng (Bài hai) Bến cũ vương khói lạnh, Lưa thưa cây bãi sông. Mặt trời chiều mây phủ, Chỉ thấy một khối hồng. 4 Trên đường từ cầu Chương Dương đến làng gốm Bát Tràng
(Bài ba) Xuân mà như đang đông. Cây đa cụt giữa đồng. Gió thổi qua tay áo. Một chấm thuyền trên sông. 5 Tiễn bạn Mưa phùn trên ngọn tre. Đi không hẹn ngày về, Bàn tay anh that lạnh Mây nặng sà sát đê. 5 Dọn đến nhà mới Giống người từ quan lên núi ở ẩn, tôi xin nghỉ việc, dọn ra sống ở ngoại ô bên sông Hồng, hầu như không đi đâu, không gặp ai, hàng ngày chỉ đọc sách, ngắm hoa và làm thơ. Một người bạn cũ đến thăm, hỏi sống thế nào. Tôi chỉ cười, không đáp, nhưng trong đầu thì nghĩ thế này: Dẫu chưa đạt mức thiền, Nhưng cũng được để yên, Ngủ khong cần báo thức, Thích, ra sông đếm thuyền. 6 Chiều ngoại thành Mặt trời khuất sau làng, Chim bay dàn hàng ngang. Sách trên bàn không đọc, Gió thổi, tự lật trang. 7 Mồng chín tháng Giêng năm Mậu Dần, được phó tiến sĩ Nguyễn Sĩ Đại, phóng viên thường trú báo Nhân Dân ở Nghệ An ra thủ đô ăn tết, đến thăm. Mấy khi rời phố đông Được đi dạo giữa đồng, Đãi bác, nghèo, chỉ có Mây, gió và khúc sông. 8 Buổi sáng đầu xuân, mưa nhỏ, đi dạo một mình ở Ngọc Thụy Sang sáng một vòng chếch phía đông, Hình như có người cấy giữa đồng. Không kính, nhưng nhìn lâu cũng thấy Ba bốn chấm thuyền, nửa giòng sông. 9 Gửi phó tiến sĩ Nguyễn Sĩ Đại Vệt nắng lạnh ngang đồi Quệt vào tay, vào môi. Tự nhiên thấy nhớ bác. Bao giờ về thăm tôi? 10 Đêm khuya, 13 tháng Giêng âm lịch, ngồi ngắm hoa, nghĩ thơ một mình trong vườn. Mờ ảo ánh trăng tà, Tiếng gà gáy xa xa. Lại nhích chân lần nữa Để không dẫm bóng hoa. 11 Tự nhắc mình Tuổi đã quá ngũ tuần Còn đeo đuổi thơ văn, Nghĩa là còn vương vấn Một chút ít bụi trần. 12 Người ăn mày ở chùa Quán sứ Mù, ngồi xin suốt ngày Không ai cho – còn may Thỉnh thoảng hoa đại rụng Rơi lên lòng bàn tay. 13 Thăm lại ngôi nhà tổ tiên ở quê cũ Diễn Châu (Bài một) Nửa bờ dậu đổ xiêu Đỡ nặng mặt trời chiều. Lối đi rêu không mọc Càng thêm vẻ tiêu điều. 14 Thăm lại ngôi nhà tổ tiên ở quê cũ Diễn Châu (Bài hai) Giọng vẫn chưa thay đổi, Nhiều người còn nhận ra. Thế mà vẫn thấy lạ ƠŒ ngay tại quê nhà. 15 Ngẫu hứng khi dạo trong vườn Thơ nghĩ mãi không ra, Vợ gọi cơm trong nhà. Bụi hồng hoa sắp rụng, Phải rón rén đi qua. 16 Hoàng hôn sau mưa Mặt trời lặn, để quên Chút nắng trên Tản Viên. Nắng ấm, dính vào núi, Núi và trời dính liền.
17 Mua khế giống ở Ngọc Thụy Thằng bé ngủ ngoài sân, Mặt trời xuống thấp dần. Với tay níu cành quả, Nắng rụng đầy dưới chân. 18 Vãn chùa Thuyền Quang Buồn buồn một ni- cô Cho cá ăn bên hồ. Có ai cười khe khẽ Mà nghe như rất to. 19 Chiều đông Phòng nửa tối, nửa sáng. Gió thổi tung nửa mành, Đưa tận chân chiếc lá Nửa vàng, nửa còn xanh. 20 Nằm trên đê, chờ đò ở bến Phúc Ninh Dùng dằng không dứt được, Để nhỡ chuyến đò ngang. Giận con bướm bay lượn Làm rối sợi nắng vàng. 21 Thơ làm khi đi thuyền ở Bích Động Nắng chiều sót lại nửa dòng sông, Chiếc miếu cô đơn đứng giữa đồng. Sau mưa núi đá như bốc khói, Hoàng hôn lúc tím, lúc như hồng. 22 Đáp khi được hỏi về mơ ước lớn nhất Hoa, núi, cảnh bình yên. Dòng sông, một chiếc thuyền. Lều tranh nằm đọc sách . Nước lạnh soi lòng thiền 23 Đêm trăng khó ngủ đi dạo giữa làng Mây sà sát ngọn cây, Sương mù dính vào tay. Ao lạnh soi trăng đục Dẫm phải bùn, lấm giày. 24 Sáng xuân Ngồi ngắm hoa, sưởi nắng, Không thơ, không buồn lo, Lòng thảnh thơi, tĩnh lặng Như nước lặng dưới hồ. 25 Thơ viết khi mới ngủ dậy Hình như đêm qua say, Nghĩ được bài thơ hay, Giờ không sao nhớ nổi Cứ tiếc mãi điều này. 26 Vô đề Có thể vì ngây thơ, Cố ý hoặc tình cờ, Một lần nói dối bạn, Hối hận đến bây giờ. 27 Viết trong khi ngồi uống trà và ngắm hoa cúc cùng bạn cũ là phó tiến sĩ địa chất Hoàng Khiển bên bàn đá trong vườn Thấy tóc bác điểm trắng Tưởng là bụi thời gian. Nhưng nhìn kỹ không phải, Hóa ra là bụi trần. 28 Một thoáng cô đơn Sách gấp, cổng khép hờ. Con chó sủa vu vơ. Trà pha chắc đã ngấm. Không ai hẹn cũng chờ. 29 Nguyên Tiêu Đã tắt mấy tuần hương. Có ai đi ngoài đường. Mưa rơi lên tàu chuối... Mai chắc trời nhiều sương. 30 Đêm đông Gió lạnh thổi qua rèm, Lá xạc xào trong đêm. Tưởng ai, ra mở cổng – Thấy trăng sáng nửa thềm.
31 "Trúc sấu lão công khanh" Thơ rượu, nhàn suốt ngày, Lòng nhẹ tênh như mây. Chỉ khi nhìn khóm trúc, Tủi mình không được gầy. 32 Tuổi già Một lần gặp nhau bên bàn rượu, hàn huyên đủ chuyện, bất chợt một người bạn bảo tôi đã già, tôi hỏi vì sao, bạn tôi đáp đại khái thế này: Ngồi uống rượu, ngắm hoa. Cô gái đẹp đi qua Mà hình như không thấy – Nghĩa là bác đã già. 33 Suy nghĩ về thơ khi xem tranh Tề Bạch Thạch Phóng túng và giản dị, Không màu mà nhiều màu. Ít lời mà nhiều ý, Đọc thoáng mà nhớ lâu. 34 Cảm tác khi đọc câu thơ “tam vạn quyển thư vô dụng xứ” của Trần Nguyên Đán. (Bài một) Tờ giấy dẫu rất nặng, Nhưng cái nặng của lời Nhiều khi còn quá nhẹ Để thay đổi cuộc đời 35 Cảm tác khi đọc câu thơ "Tam vạn quyển thư vô dụng xứ" của Trần Nguyên Đán (Bài hai) Sách giúp thành thông thái, Giúp ta hướng về thiền, Nhưng nhiều khi cản trở Con người sống tự nhiên. 36 Về thăm quê, chiều đi dạo trong làng, cảm tác Không còn trâu về xóm Chỉ có chiếc máy cày. May quê còn giữ được Chút nắng và chút cây. 37 Bức tranh quê chiều đông ở Diễn Châu Hai bà cháu nhặt thóc, Sưởi nắng quái bên ao. Ao tù sấu chín rụng Không nghe rõ tiếng nào.
38 Từ hiên nhà nghỉ Tam Đảo, đêm trăng Hương hoa thấm vào áo. Trăng lạnh, chiếu lên rêu. Núi trong đêm mờ ảo. Con chim gì cứ kêu. 39 Nhà mới ở Gia Lâm (Bài một) Ngồi buồn, một chiếc lá Gió thổi, rơi vào tay, Tự nhiên bỗng biến mất Mọi phiền muộn trong ngày. 40 Nhà mới ở Gia Lâm (Bài hai) Về, không nghe tiếng chó, Lo, chẳng hiểu vì sao. Thấy khóm tre trước ngõ Mới yên tâm phần nào. 41 Vãn cảnh chùa ở Cổ Loa, Đông Anh Giếng lạnh soi bóng mây. Bàng đang mùa rụng lá... Cảnh đã buồn thế này, Lại gặp toàn người lạ. 42 Nhân đọc thơ Vương Duy, cảm tác Ồn ĩ suốt cả đời, Tóc trên đầu tự bạc. May giờ được thảnh thơi “Dĩ ngộ tịch vi lạc” 43 Chợ trên sông Buổi sáng, thủy triều còn chưa lên, Buôn bán ngược xuôi, chợ đông thuyền. Một chiếc, chủ nhân say ngủ thiếp, Cọc sào quên cắm, vẫn đứng yên. 44 Nói với ông giáo Hán văn Nguyễn Đức Ngọ khi đi dạo quanh chỗ nước nông Hồ Tây ở Quảng Bá. Dọc súng chao trên nước. Sen héo, liễu la đà. Bên hồ, hai tảng đá Hình như đang chờ ta. 45 Đầu xuân, ngẫu tác Núi choán hai phần cửa, Nước trong, trời cũng trong, Mà bỗng nhiên vô cớ Vương vấn đục trong lòng. 46 Sau mưa Nắng ướt chiếu qua rèm. Hôm qua mưa suốt đêm. Tự nguyện thay con ở Quét hoa rụng ngoài thềm. 47 Tiễn bạn Tiễn anh ra tận sông, Lúa đang độ đâm bông Nhìn về phía Hà Nội Thấy toàn mây bập bồng.
48 Nhà mới ở Gia Lâm Suốt ngày dạo ngoài đê, Mải ngắm quên cả về. Cởi giày đi chân đất, Trẻ tưởng ông nhà quê. 49 Ngẫu hứng (Bài một) Hình như ngày một yếu, Đời nặng, lưng đang còng. Đỡ lại, may còn có Thơ, núi và dòng sông. 50 Ngẫu hứng (Bài hai) Cúi mình soi xuống nước Xem già đến mức nào. Chỉ bực con chim nghịch, Ném quả gì xuống ao. 51 Ngẫu hứng (Bài ba) Kể từ ngày từ quan Sống ẩn dật, an nhàn, Hàng xóm nghi: thất sủng! Vợ phẩy tay: ông gàn! 52 Đến nhà một người bạn cu, không gặp Ao lạnh soi cỏ héo, Thềm lốm đốm xác hoa. Cửa đóng, cô hàng xóm Đon đả mời vào nhà. 53 Vô dề Vườn tối, trăng chưa lên, Lười không dậy thắp đèn. Buồn giở sách ngồi đọc Nhờ ánh sáng nhà bên 54 Trăng đầu tháng (Bài một) Ngõ sâu trăng mờ mờ. Ngồi suy nghĩ bâng quơ. Ngoài đường ai bước mạnh, Làm rụng mất ý thơ. 55 Trăng đầu tháng (Bài hai) Đường vắng, cây động đậy. Bỗng nghe có tiếng cười, Ngoái lại nhìn chỉ thấy Bóng đổ dài hơn người. 56 Bí thơ Nắng xuyên qua liếp cửa Thành tia bụi mờ mờ. Một mình với con chó, Xung quanh toàn sách thơ. 57 Đêm trăng trong vườn Hương hoa nhài nhè nhẹ Thấm lạnh nửa gấu quần. Ánh trăng như sữa loãng Chảy dinh dính dưới chân. 58 Gửi Phan Văn Vĩnh Vật lộn với cái rét, Hoa đã nhú trên cành. Nâng chén rượu định uống, Chợt bùi ngùi nhớ anh. 59 Đồng Mô Bài một Hồ nửa mưa, nửa nắng Ngắm không chán cả ngày. Chắc những người luôn vội Chỉ thấy nước và mây. 60 Đồng Mô Bài hai Hồ trong, mưa vừa tạnh. Rừng lá đỏ, lá vàng. Trời cao xanh, mây lạnh. Đàn vịt bay thành hàng. 61 Trung du, nhìn từ cửa sổ nhà một người quen Con đường mòn màu gạch Chạy men theo chân đồi. Sau mưa, làn mây rách Không gió, tự mình trôi. 62 Tiễn phó tiến sĩ địa chất Hoàng Khiển về quê Nghệ An thăm vợ Tiễn anh về, ướt áo, Lại ngồi ngắm sông Hồng. Năm nay mưa nhiếu thế, Sông Lam có đục không? 63 Tam Đảo Suối nông, không ngập đá. Lá đỏ nhiều hơn xanh. Dưới khe, cô gái lạ Cười, còn chào bằng anh. 64 Đáp khi được hỏi sống thế nào từ ngày thôi việc Tự hòa vào cây cỏ, Từ quan, không từ đời. Tự do như ngọn gió, Thích, suốt ngày đi chơi. 65 Đêm trăng ở Nghi Tàm Hình như ai chèo thuyền Làm xao động lá sen. Hay chỉ tiếng giặt áo Của cô gái nhà bên? 66 Buổi sáng đầu xuân Bài một Bầy gà con mới ấp Xốp như bông, tròn tròn, Xúm vào nhau, Đếm mãi Vẫn không biết mấy con. 67 Buổi sáng đầu xuân Bài hai Con mèo duỗi chân ngáp. Một góc thềm đẫm sương. Vợ mang cà phê đến. Nắng mỏng dính lên tường. 68 Đầu thu, đêm mưa, ngồi một mình Bài một Nửa đêm, thuyền trên sông Le lói đốm lửa hồng. Hình như ai đang khóc, Cũng có thể là không. 69 Đầu thu, đêm mưa, ngồi một mình Bài hai Gió lạnh, trời sắp sáng, Mưa rả rích suốt đêm. Chốc chốc khế chín rụng Làm nước té lên thềm.
70 Làng gốm Bát Tràng Bài một Bóng hoa trên cửa sổ. Núi mờ mờ xa xa. Lúa trổ bông, theo gió Hương bay đến tận nhà. 71 Làng gốm Bát Tràng Bài hai Đồng không, chiều man mác. Mặt trời đã lên cao. Không có cây để biết Gió đang thổi hướng nào. 72 Làng gốm Bát Tràng Bài ba Mỉm cười với cây cỏ, Nghĩ thơ, nói thành lời. Người đi ngang liếc trộm, Tưởng ông già dở hơi. 73 Làng gốm Bát Tràng Bài bốn Bóng hoa đào run rẩy Nằm dưới vũng nước nông. Dưới trăng cúi nhìn kỹ Hình như bóng màu hồng.
74 Làng gốm Bát Tràng Bài năm Xóm nhỏ nghèo ven đê Sau cơn giông đầu hè Khói lam chiều, gió lặng, Vương mãi trên bờ đê. 75 Làng gốm Bát Tràng Bài sáu Gió hây hây, trăng sáng. Mải làm thơ, ngắm hoa, Suýt quên không mở cửa Cho gió xuân vào nhà. 76 Làng gốm Bát Tràng Bài bảy Đào mới trồng, chưa nở, Nhỡ mất một mùa xuân. Trăng mọc, cây đổ bóng, Dính cả vào ống quần. 77 Làng gốm Bát Tràng Bài tám Ít khi rời thành phố, Dạo thơ thẩn bên sông. Chút nắng vương trên tóc Đêm sáng mãi trong phòng.
78 Bờ đê Sông Hồng, ban đêm Mờ mờ mấy chấm đèn... Phía Ngọc Thụy trăng lên. Chó sủa sâu trong ngõ. Nhạc buồn buồn nhà bên. 79 Tranh thủy mặc Bài một Trời như nền giấy trắng. Một vệt sông mờ mờ. Mấy chấm thuyền im lặng. Một cành liễu lơ thơ. 80 Tranh thủy mặc Bài hai Trăng to tròn, rất gần. Vệt núi xa rất mảnh. Con cò đứng một chân. Cỏ lau trong đầm lạnh. 81 Tranh thủy mặc Bài ba Liễu lòa xòa, ao nhỏ. Bậc đá rửa khập khênh. Nhện đuổi nhau trên nước. Lá sen úa bập bềnh. 82 Chuyện vặt trong nhà Con gái vừa mới lớn Tập đánh phấn trong phòng. Thấy bố vào xấu hổ, Chưa đánh, má đã hồng. 83 Thầm nói chuyện với họa sĩ Lê Đại Chúc Càng già càng lập dị, Hý hoáy vẽ hàng giờ. Trời không cho tài vẽ, Đành học vẽ bằng thơ. 84 Bến đò Hoàng Mai, tiết hàn thử năm Mậu Dần Con đường mòn uốn khúc. Gió lặng, nước đang lên. Thuyền ai cột dưới bến. Bóng cây che nửa thuyền. 85 Lâu ngày đến chơi nhà ông Lê Phương ở cống Xuân Quan, Bát Tràng Chén này, thêm chén nữa, Mải uống, quên cả về, Để trăng buồn, lặng lẽ Đợi một mình ngoài đê. 86 Đêm mồng chín tháng Hai Mậu Dần, bỗng nhớ quê cũ Diễn Châu Tiếng con mọt đục sách Nghe rất rõ trong phòng. Có lẽ đêm sắp hết. Trăng sáng ngoài bãi sông.
87 Mưa phùn trên sông Bến sông, mưa lất phất. Đò ai quên cột dây. Vô tình hay hữu ý, Cành liễu chạm vào tay. 88 Sống nhàn ở Gia Lâm Suốt ngày nhìn bóng nắng Chầm chậm bò lên thềm. Đọc sách nhờ gió lật, Đợi quỳnh nở suốt đêm. 89 Viết khi qua cầu Chương Dương Nước xuống, sương dày đặc. Sông lấm chấm ánh đèn Đêm nay trời rét thế, Chắc gì trăng đã lên. 90 Ngẫu tác Bỏ đại ngôn, triết lý Tập làm thơ điền viên. Bỗng thấy đời giản dị, Mình cũng thêm chút thiền. 91 Nước lên Đêm, ngoài sông nước lên Trong phòng nghe rất rõ. Có điện nhưng thắp đèn. Chắc trời đang lặng gió. 92 Chiều, ngắm cảnh Hồ Tây, bâng quơ nghĩ về những năm tháng đã sống Đời, như nắng trên nước, Chỗ tối, chỗ lung linh. Sai đúng tự mình biết, Buồn vui cũng tự mình. 93 Bức tranh quê Bài một Bầy trẻ tắm dưới ao. Con nghé cọ bờ rào. Ông lão ê a hát, Say, gặp ai cũng chào. 94 Bức tranh quê Bài hai Như nét chì vẽ vụng, Chiếc cầu vắt qua sông. Trẻ chăn trâu bên cạnh. Mấy bà cấy giữa đồng. 95 Bức tranh quê Bài ba Ven sông, vườn đất ẩm In rõ từng dấu chân. Chắc mai mưa, lại mất Sương ướt hai gấu quần. 96 Tiễn bạn Bài một Tiễn anh về, khép cổng, Ngồi uống rượu, đọc thơ, Không biết mặt trời lặn Rồi trăng mọc bao giờ. 97 Tiễn bạn Bài hai Quán thơm mùi hoa sữa. Mưa mãi không ướt đường. Uống thêm chén này nữa – Ngại gì trời nhiều sương? 98 Lập xuân Đêm không trăng, trời tối. Tiếng gọi đò ngoài sông. Nhà bên chó bỗng sủa – Chắc ai dậy ra đồng. 99 Gửi bạn thơ Không có người thưởng thức, Thơ nay rẻ như bèo. Cho mình, ta cứ viết – Sống đọc, chết mang theo. 100 Đầu xuân mưa nhỏ Bài một Gà lên chuồng, cổng khép. Ếch nhái gọi ngoài ao Đường làng sâu và hẹp. Gió thổi xiêu bờ rào. 101 Đầu xuân mưa nhỏ Bài hai Sắp tối, thuyền mờ những chấm đen. Quán rượu bên sông đã thắp đèn. Ai lách thuyền câu qua bãi sậy, Vịt trời thấy động vụt bay lên. 102 Khó ngủ Trăng chếch bên thềm, hoa đẫm sương. Đêm thu, ao nhỏ thấm mùi hương. Bến sông đò muộn người đang gọi, Lá rụng ngoài sân, lạnh nửa giường. 103 Dạo chơi ngoài đồng, gặp mưa, chợt nhớ quê Có thể xế chiều, hoặc mới trưa, Trú tạm đình làng đợi ngớt mưa. Áo ướt, lo quê đang gặp hạn, Lúa muộn đồng Chùa trổ hết chưa? 104 Đêm 14 tháng Ba năm Mậu Dần, trời mưa, khó ngủ Bức mành ngái ngủ, tự lung lay. Cái buồn, cái ẩm dính vào tay. Mưa rơi lộp bộp trên tàu chuối. Chum nước ngoài sân chắc đã đầy.
105 Ngẫu hứng, tặng Trần Lệ An Được bác đến chơi, vợ vắng nhà. Rượu suông, trà nhạt chỉ mình ta. Đàm đạo văn chương trong vườn nhỏ, Bác về, tay áo dính đầy hoa.
Thái Bá Tân
|