Trang chủ arrow Truyện ma arrow Erôstrat
Erôstrat PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân   
10/10/2006
                         
Lúc ấy là giữa tháng Tám năm 1994.

Trước khi vào cảng, con tàu "Renaissance" rú lên hồi còi dài chào thành phố Istanbul. Hành khách kéo nhau lên boong khi nó chui qua chiếc cầu nồi liền châu Âu và châu Á. Nó là con tàu khách sang trọng của một công ty du lịch biển Hy Lạp đang thực hiện chuyến đi vòng quanh Biển Ðen, xuất phát từ Athens, ghé một số cảng ở Nga, Bungari, Rumani, và bây giờ  sắp đổ khách lên đất Thổ Nhĩ Kỳ. Nó được thuê bao toàn bộ cho cuộc hội thảo nhà văn thế giới kéo dài hai mươi ngày và được tổ chức ngay trên tàu. Tôi cũng có mặt trong số những người tham dự. Các hoạt động liên quan đến hội thảo thực ra rất ít, chủ yếu du ngoạn trên biển và tham quan các cảng tàu ghé vào.

Theo lịch, tàu chỉ dừng ở Istanbul một ngày rưỡi, sau đó sẽ quay về cảng xuất phát ở Athens, thủ đô Hy Lạp, rồi từ đó tất cả đi xe buýt tới đền thờ Ðenphi cách cả trăm cây số, là nơi hội thảo sẽ bế mạc bằng nghi lễ tế thần Dớt vĩ đại. Tuy nhiên, thời tiết đột ngột trở xấu, biển động. Chờ thêm mấy giờ, cuối cùng chúng tôi được thông báo sẽ phải ở lại Thổ Nhĩ Kỳ bốn ngày. Chương trình tham quan Istanbul chỉ một ngày là xong. Ðể khách khỏi buồn trong khoảng thời gian còn lại, người ta đưa ra danh sách một loạt các điểm du lịch hấp dẫn cả trong và ngoài thành phố. Ai không thích cứ lên tàu ăn, ngủ. Tôi chọn tour đi Ephes, cách Istanbul không xa lắm.

- Ephes từng là một thành phố cảng và là trung tâm buôn bán rất nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại, - người hướng dẫn, một chàng trai thông minh, nhanh nhẹn, có tên là Uphus nói khi xe sắp đến nơi. - Nó được xây dựng vào thế kỷ mười một trước công nguyên, trên cửa sông Cayster bây giờ gọi là sông Menderes. Ephes từng trải qua nhiều cuộc xâm lược của người Ba Tư, người La Mã và một số bộ tộc man rợ từ phương bắc. Sau mỗi lần như thế, thường thành phố bị hủy diệt và xây mới hoàn toàn. Năm 614 sau công nguyên, một trận động đất lớn đã vùi cả thành phố trong đống đổ nát. Tới đầu thế kỷ thứ 14, do cảng bị bồi cạn và dòng sông đổi hướng, Ephes trở thành hoang phế. Thành phố này nổi tiếng một thời nhờ các hoạt động thương mại, văn hóa và vô số các công trình kiến trúc, điêu khắc có một không hai của nó.

Uphus hạ giọng, có vẻ luyến tiếc cho sự huy hoàng của một thành phố đã chết. Sự luyến tiếc ấy lây sang người nghe. Ðiều ấy dễ hiểu, vì trước mắt chúng tôi bây giờ không có gì ngoài một bãi trống lổn nhổn đá trắng và những nhát cắt khảo cổ nhằm tìm kiếm dấu vết của cái một thời được gọi là thành Ephes. Nổi bật nhất là một nhà hát kiêm đấu trường lớn hình chảo còn  khá nguyên vẹn. Nó được xây dựng cuối thế kỷ thứ tư đầu thế kỷ thứ năm, với các dãy ghế bằng đá bao quanh và một con đường rộng lát đá cẩm thạch trắng chạy từ nhà hát tới nơi ngày xưa là bến cảng. Rải rác xung quanh là những hố khai quật cho thấy các cửa hàng, nhà ở bị vùi sâu dưới đất. Các cung điện vua chúa bây giờ chỉ còn lại mấy cột đá, một bức tường chi chít phù điêu và một chiếc cổng có vẻ như mới được dựng lại.

- Ðây là nhà vệ sinh của giới quí tộc! - Uphus nói, chỉ tay xuống một dãy những phiến đá cẩm thạch có khoét lỗ tròn ở giữa. Sâu phía dưới là một khe nhỏ bây giờ khô cạn, nhưng trước đây luôn có nước chảy để dẫn chất bẩn ra biển. - Khi từ Ai Cập sang thành La Mã, nghỉ ở đây, nữ hoàng Clêôpát có thể đã sử dụng nhà vệ sinh này. Có điều không biết cụ thể phiến đá nào. Có ai muốn thử ngồi xuống đây không? - anh cười hỏi.

Khách tản đi xem mỗi người một nơi, tôi nói với Uphus:

- Anh có thể chỉ tôi xem đền thờ nữ thần Artemis ở đâu không? Nó là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Ngôi đền Bị Êrôstrat đốt vào năm 356 trước công nguyên ấy mà.

Uphus có vẻ hơi ngạc nhiên.

- Tôi quan tâm tới các nền văn minh cổ đại, - tôi nói thêm, - nên có biết đôi chút về thành Ephes cùng ngôi đền Artêmis nổi tiếng của nó. Chắc anh phải biết rất rõ...

- Tôi là sinh viên năm cuối khoa sử trường Ðại học tổng hợp Istanbul, sắp bảo vệ luận án về lịch sử thành phố cổ đại này. Bây giờ nghỉ hè, tôi làm thêm nghề hướng dẫn du lịch để kiếm tiền. Có lẽ tôi có thể cho ông biết tất cả những gì ông muốn biết về nó.

- Cả đền  thờ Artemis và  rôstrat ?

- Hy vọng là thế.

So với các công trình khác, những gì sót lại từ đền thờ Artêmis còn ít hơn, mặc dù sau khi bị  rôstrat đốt, nó còn được xây mới và tu bổ lại nhiều lần.

- Như ông biết, - Uphus nói khi chúng tôi đi khá xa đến một bãi trống không khác mấy những nơi khác, - ngôi đền thờ Artêmis, nữ thần săn bắn và Mặt trăng theo huyền thoại Hy Lạp, có từ rất lâu dưới dạng một bức tượng đơn sơ đặt trong hốc cây cổ thụ. Tới giữa thế kỷ thứ sáu sau công nguyên người ta mới quyết định xây một ngôi đền thật lộng lẫy, và phải hơn một trăm năm sau mới xây xong. Kỳ quan thế giới toàn bằng đá hoa cương ấy tọa lạc trên một nền đất dài 127 mét, rộng 73 mét, cao mười bậc, có 127 cột đá khổng lồ xếp thành hai hàng cao 19 mét đỡ các phiến đá rộng làm mái. Trong đền là tượng nữ thần Artêmis tuyệt đẹp, cũng bằng đá nguyên khối...

- Nhưng nếu toàn bằng đá như anh nói thì làm sao nó cháy được? - tôi hỏi.    

- Ðó cũng là câu hỏi nhiều nhà sử học nêu ra. Khoa học đã lý giải điều này. Trong đền có nhiều thứ dễ cháy. Sức nóng ngọn lửa làm chất axit cacbonit trong đá bốc hơi như bất kỳ loại đá vôi nào, tạo thành một quá trình cháy âm ỉ bên trong. Kết quả là đá hoa cương cũng bị nung chín thành vôi,  sau một trận mưa vôi biến thành bụi đất.

- Theo anh, tại sao cái thằng  rôtrat ấy lại quyết định đốt đền thờ Artemis?

- Ðể trở thành nổi tiếng, như chắc ông đã biết.

- Vâng, tôi biết. Nhưng có thể còn vì những nguyên nhân khác. Dẫu sao hắn cũng là một công dân tự do của thành Ephes và phải tự hào về ngôi đền đó.

- Chẳng có lý do nào khác ngoài việc muốn được mọi người nhắc tên, lúc ấy và mãi mãi sau này. Chẳng phải bây giờ tôi và ông đang nhắc đến cái tên  rôstrat đáng nguyền rủa ấy đó sao, tức là chúng ta đã mắc mưu hắn.

- Một nhà văn Nga có viết một vở kịch rất hay, gọi là "Vụ án người đốt đền" về chuyện này, anh biết không không? Nó được dựng ở Hà Nội cách đây vài chục năm, và từng một thời làm xôn xao dư luận.

- Tôi đọc tất cả những gì người ta viết về Ephes và ngôi đền. Nhưng vở kịch này thì chưa.

- Theo tác giả, có thể là hư cấu, sau khi đốt đền và bị giam vào ngục, Erôstrat đã bán bản thảo hồi ký của hắn về việc làm tội lỗi này. Thế mà có nhiều người mua nó, kể cả những người quyền quí và không hẳn chỉ vì tò mò. Không ít người còn ngưỡng mộ hắn, thậm chí coi hắn là con thần Dớt. Cũng vì muốn được "bất tử" như hắn, hoàng hậu Clêmentine vào tận nhà tù trao thân cho hắn, một gã lái buôn tầm thường không xu dính túi, một tên tội phạm đầy tham vọng bệnh hoạn, với điều kiện hắn tuyên bố với mọi người rằng hắn đốt đền nữ thần Artêmis chỉ vì quá yêu nàng mà không được nàng đáp lại. Còn chồng nàng, quốc vương Tisaphec, thì bị hắn thuyết phục không giết, với ý định lợi dụng hắn vào những âm mưu chính trị của ông ta. Anh xem, cái ác lần nữa lại thắng và sắp sửa gây những tội lỗi mới. May có quan tòa Clêôn là người dũng cảm dám đấu tranh vì công lý. Ông bị Tisaphec cách chức bắt làm lính cai ngục, nhưng cuối cùng  rôstrat đã bị chính bàn tay ông giết. Nghĩa là rốt cục cái ác vẫn bị trừng trị. Ðó cũng là chủ đề của vở kịch. Tuy nhiên vở kịch hay không vì chủ đề nhàm chán này, mà nhờ tính cách con người  rôstrat. Tôi muốn biết trong thực tế hắn là người thế nào và chuyện gì đã xẩy ra với hắn sau đó.

Uphus im lặng một lúc mới đáp:

- Những gì bây giờ người ta biết về hắn đều rất lờ mờ. Trong chừng mực nào đấy cũng là một dạng hư cấu như vở kịch ông vừa nói. Hai nghìn năm trăm năm chứ đâu ít. Theo tài liệu đáng tin cậy nhất, sau khi đốt đền vì động cơ quái gở trên, Erôstrat bị đám đông giận dữ giết chết như một con chó ghẻ ở quảng trường thành phố. Rồi mọi người bị cấm không ai được nhắc tên hắn. Theo tôi, đó là một lệnh cấm ngu ngốc, vì thói thường càng cấm, người ta càng quan tâm. Thế là trúng ý hắn. Hắn trở thành nổi tiếng. Hắn, kẻ châm lửa đốt một kỳ quan thế giới hàng vạn người xây dựng suốt mấy trăm năm, thế mà đang được tôi và ông bây giờ nhắc đến. Và hắn sẽ còn được người ta nhắc đến nhiều năm nữa. Trong khi chúng ta xưa nay không ai biết gì về những con người đã lặng lẽ làm nên kỳ quan ấy.

-Tôi và anh không ngưỡng mộ mà đang lên án hắn.

- Hẳn thế. Nhưng hắn đã để lại được dấu ấn trong lịch sử. Hắn là một nhân vật lịch sử, mặc dù chỉ là kẻ tầm thường, một tên tội phạm không hơn không kém. Cái trớ trêu là ở chỗ ấy.

- Dẫu sao cũng không thể để mãi thế được. Cần phải làm cái gì đó. Anh nghĩ phải làm gì ?

- Chẳng làm gì cả. Cứ để sự thật tồn tại như nó vốn có. Ðừng cắt bỏ hoặc thêu dệt thêm. Cũng không nhất thiết phải khẳng định cái thiện luôn thắng cái ác, lẽ phải luôn thắng bất công. Thực tế không phải lúc nào cũng đúng vậy. - Uphus triết lý. - Vấn đề ở chỗ mỗi chúng ta cần có cách nhìn riêng về chuyện này, cũng như về  rôstrat. Tôi đọc khá nhiều truyện hư cấu đại loại như vở kịch kia của ông người Nga. Có người viết hắn đã hối lỗi và tự sát. Cũng có người viết hắn bị chính vợ con giết chết, hoặc bị các thần linh oai nghiêm trừng trị. Hoặc hắn bị các công dân Ephes đáng kính không cho chết, mà bắt sống suốt đời với cái bảng "Kẻ đốt đền Artêmis" nhục nhã trước ngực. Là nhà văn, ông cũng có thể phịa ra một đoạn kết ông cho là thích hợp. Mà thôi, - Uphus nhìn đồng hồ. - Ðẫ đến lúc phải quay lại với đoàn.

- Anh đi trước đi, - tôi nói. - Tôi muốn ở đây thêm chút nữa. Anh thực sự nghĩ chúng ta không thể làm gì khác ngoài việc để cái tên  rôstrat ấy tiếp tục tồn tại một cách đắc thắng như thế sao?

- Hắn không là người chiến thắng. Hắn phạm tội và đã bị trừng trị thích đáng. Còn việc ai đó nhắc tên hắn hay thậm chí viết về hắn thì là chuyện riêng của người ấy. Còn tôi, tôi thấy hắn chẳng đáng cho tôi quan tâm thêm nữa! - Uphus nói rồi bỏ đi.

                                                     *
Lúc ấy mới hơn mười giờ sáng, nhưng trời đã nóng gay gắt. Không một làn gió nhẹ dù biển nằm ngay bên cạnh. Theo lịch, còn hai giờ nữa mới lên xe trở về Istanbul. Mọi người đang tỏa đi khắp nơi xem cái mình quan tâm. Một số vào ngôi nhà một tầng duy nhất - nơi đón tiếp khách tham quan - để giải khát hoặc nghỉ ngơi.

Tôi lửng thững dạo thêm hồi lâu quanh nơi xưa kia là đền Artêmis, vẫn không thôi bị ám ảnh bởi cái tên  rôstrat kia. Tôi cố không nghĩ đến hắn nhưng vô ích, do vậy cứ vấn vương đủ chuyện chẳng mấy vui vẻ, về sự độc ác, phù phiếm, bất lực và ngu ngốc của con người. Tôi căm ghét hắn, cái gã lái buôn tầm thường, cái tên phá hoại văn hóa xảo quyệt và trâng tráo ấy. Tôi cũng khó chịu với cả chính mình vì cứ luôn nghĩ về hắn.

Cuối cùng, tôi ngồi xuống nghỉ bên gốc cây nhỏ hiếm hoi cạnh đấy, và  thiếp đi lúc nào không biết.

Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê ấy, cảm thấy như có ai đang trừng trừng nhìn mình, tôi mở mắt và thấy một người trạc bốn mươi tuổi với bộ trang phục giống người Hy Lạp cổ. Ông ta đi dép da dê, tấm vải lớn màu đỏ vắt qua vai, bên hông đeo thanh kiếm bằng vàng, đầu đội vòng nguyệt quế. Trông ông ta uy nghi lẫm liệt chẳng khác một vị thần. Nhưng nét mặt thì lộ vẻ ngạo mạn, xấc xược và xảo quyệt.

- Ngươi đang làm quái gì ở đây thế này? - ông ta nghiêm mặt hỏi.

Tôi bối rối một lúc rồi rụt rè đáp, không phải không thoáng sợ hãi.

- Chẳng làm gì cả. Tôi nghỉ. Còn ông là ai ?

- Ta là  rôstrat, thần  rôstrat. Ngươi có biết ngươi đang ngồi ở đâu không? Ở chính phòng giam mà mấy tên quan ngu ngốc của thành Ephes ngày xưa đã ném ta vào sau vụ đốt đền lịch sử. Ðó cũng chính là nấc thang đưa ta lên bậc thánh. Vì vậy ta không muốn một kẻ trần tục như ngươi làm ô uế nó. Hãy cút đi ! - ông ta quát, giọng vang như sấm. Ðúng giọng một vị thần.

"Ra là hắn! Lại còn tự xưng là thần! Thật vớ vẩn!" tôi nghĩ nhanh trong đầu. Sự phẫn nộ làm tôi trở nên dũng cảm. Tôi vẫn ngồi yên, lưng tựa vào gốc cây như không hề nghe lời quát đầy hăm doạ của hắn.

- Tôi không là tội phạm, do vậy không phải đang ngồi trong tù. Ðây là ngôi đền thờ thiêng liêng của nữ thần Artêmis!

- Nhảm nhí! - hắn bĩu môi khinh bỉ. - Ngươi đang ngồi trong tù mà tưởng là điện thờ. Riêng điều ấy đủ thấy ngươi và những người đương thời như ngươi nhầm lẫn, ngu ngốc thế nào. Ðền thờ có vinh dự được ta đốt cháy ở tít đằng kia kìa! - Hắn nhấn mạnh chữ "vinh dự" và "được", tay chỉ về phía trái.

- Có thể thời gian làm người ta nhầm, - tôi đập lại, - nhưng một điều không thể nhầm được, rằng ông là một tên tội phạm trâng tráo đáng kinh tởm. Và ông đã bị người ta giết chết như giết một con chó!

- Lại càng nhầm! - Hắn phá lên cười. - Ta phải chết để phù hợp với quan niệm trẻ con của các người, rằng kẻ ác sẽ bị trừng trị chứ gì? Thật buồn cười. Chẳng ai giết ta cả. Quan tòa Clêôn và đám đông phẫn nộ kia chỉ là sự tưởng tượng ngu ngốc. Ðừng nói ngươi biết rõ điều này hơn ta. Ngươi, một anh chàng vô danh tiểu tốt sinh sau những hai nghìn năm trăm năm, lại ở cách đây cả chục nghìn cây số. Ta là  rôstrat, người đốt đền Artêmis, nhờ đó ta trở thành bất tử. Hơn thế, ta là một vị thần...

- Vị thần của cái ác! - tôi ngắt lời hắn.

- Thần ác hay thần thiện thì cũng là thần. Do vậy, ta được tôn thờ và hiện hữu khắp nơi. Ðừng giả bộ thánh thiện. Ta có mặt cả trong ngươi nữa đấy. Chính ngươi cũng biết rõ điều đó...

- Nói láo! - tôi quát vào mặt hắn, thầm ngạc nhiên sao mình có thể dũng cảm đến thế.- Trong tôi không có chỗ cho một người như ông.

- Nhưng rõ ràng ngươi thường nghĩ đến ta.

- Chỉ để nguyền rủa và nhắc mình, nhắc người khác né tránh ông. Ðáng lẽ thay cho việc cấm nhắc tên ông, người ta nên dựng tượng ông để mọi người đi qua phỉ nhổ, lấy roi quất vào mặt ông như người Trung Hoa từng làm với một cặp vợ chồng gian thần ở nước họ.

- Ngươi thật quá thơ ngây, hoặc giả vờ thơ ngây. - Vẫn thản nhiên, hắn đáp không mảy may tỏ ra khó chịu. - Ta đã được dựng tượng từ lâu, không phải ngoài quảng trường mà trong lòng người. Không phải để phỉ báng, ném đá, mà để tôn thờ. Hay ngươi định nói người ta xưa nay không tôn thờ cái ác?

- Ðúng thế. Chỉ kẻ ác mới tôn thờ cái ác. Những người lương thiện chiếm số đông trên trái đất này luôn đấu tranh chống lại cái ác...

- Thôi nào, người nói cứ như một mụ già dạy con nít. Cái thiện và cái ác không phải lúc nào cũng rạch ròi và dễ phân biệt như ngươi tưởng. - Hắn hạ giọng nói thêm: - Có phải ngươi đang giấu trong túi một viên đá vừa lấy cắp ở đây không? Mặc dù ngươi đã thấy biển qui định cấm du khách không được mang khỏi đây bất kỳ cái gì, kể cả đất đá. (Quả thật tôi đang giấu một hòn đá như thế trong túi). Ta đoán nếu không vì cái tên  rôstrat ngươi luôn nguyền rủa ấy, ngươi đã chẳng đến đây, cũng như chẳng chịu vất vả mang viên đá vớ vẩn ấy về nhà. Chắc ngươi sẽ không vất nó đâu đó trong xó bếp, đúng không? Chẳng phải bằng cách ấy ngươi đang vô tình tôn thờ ta đấy ư? Và rồi, cũng vô tình như thế, dần dần ngươi sẽ tôn thờ những cái khác lớn hơn, xấu xa hơn...

- Không, không bao giờ! Nó là vật sót lại từ ngôi đền thiêng liêng!- tôi thét lên, cho tay vào túi, túm lấy hòn đá, rồi đem hết sức mình ném vào hắn.

 rôstrat không né tránh. Hình như hòn đá trúng người hắn. Hắn chỉ cười, khinh khỉnh đáp:

- Người Hy Lạp cổ có câu ngạn ngữ thế này: "Ném đá vào người khác thì sướng tay, nhưng tay có thế đau đấy!"

Nghe thế, tôi càng tức giận hơn, vội vùng dậy chạy bổ đến hắn, dù chưa biết định làm gì. Thật lạ lùng, vẫn đứng yên cho tôi túm áo giật mạnh, hắn chỉ khinh khỉnh cười như trước.

                                                  *
Uphus đang đứng trước mặt, nhẹ nhàng gỡ tay tôi khỏi vạt áo anh.

- Mọi người đang chờ ông, - anh nói. - Trời nóng thế mà ông ngủ được. Xem kìa, mồ hôi ra đầm đìa.

Tôi lặng lẽ theo anh đi về phía có chiếc xe buýt lớn đang nổ máy. Mấy ngày tiếp theo cánh tay phải của tôi bỗng nhiên đau nhức, vất vả lắm mới giơ nổi khi ăn uống. Tất nhiên điều này không liên quan gì đến  rôstrat. Tay tôi thỉnh thoảng vẫn đau như thế, và chắc chỉ ít hôm sẽ khỏi.

                                                         Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ - Hà Nội, 1994
Cập nhật ( 20/10/2006 )
 
< Trước   Tiếp >
blog comments powered by Disqus