|
Truyện ngắn. Thái Bá Tân Đến Quảng Ninh lần này, gặp dịp, tôi được bố trí đi X. với đoàn cán bộ chỉ đạo sản xuất của một xí nghiệp hải sản. X. là hòn đảo lớn nằm xa ngoài biển, cách thị xã Hồng Gai hơn một trăm ki-lô-mét. Ở biển thế là xa, vả lại khu vực này thường sóng dữ nên nói chung ra được đấy không dễ, nhất là với những người không thật sự cần thiết như cánh nhà văn, nhà báo chúng tôi.
Tàu xuất phát từ sáng sớm. Thời tiết thật tuyệt. Con tàu chín mươi mã lực tuy nhỏ nhưng khá chắc, nhẹ nhàng lướt trên mặt nước trong xanh gần như tĩnh lặng. Buổi sáng vịnh Hạ Long có vẻ đẹp kì lạ, vừa thơ mộng, huyền bí, vừa như có cái gì nhí nhảnh, trong sáng. Lần đầu tiên trong đời tôi được thấy mặt trời mọc trên biển. Lúc đầu là một vệt sáng, mấy phút sau đã nhú lên hình chiếc bánh mì dài màu đỏ rực. Tàu vòng qua một ngọn núi đá, khi tới đầu bên kia thì chiếc bánh mì đó đã là chiếc mâm khổng lồ được nung đỏ, và vì bị che bởi một màng mỏng sương mù chưa tan, nên có thể ngắm nhìn nó rất lâu mà không chói mắt.
Cùng đi với tôi từ Hà Nội xuống còn có anh nhà báo trẻ. Lần đầu đi biển, lại được chứng kiến một cảnh đẹp như thế, anh ta không ngớt thốt lên những câu thán phục, chốc chốc quay sang hỏi người lái tàu điều gì đó. Người lái tàu, một ông già vui tính, sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc của anh. Thực ra về biển, tôi cũng chẳng hiểu biết gì hơn, nhưng do không muốn tỏ ra ngờ nghệch, tôi chỉ lặng lẽ quan sát và lắng nghe.
Qua Quan Lạn, anh nhà báo chỉ những chiếc cọc đóng thành vòng tròn rộng trên một chỗ nước nông, hỏi cái gì. Người lái tàu giải thích đó là cách dân chài bắt sam. Sam biển vùng này nhiều, thường bằng chiếc đĩa to, nếu biết chế biến sẽ là món ăn vừa rẻ lại vừa ngon. Một đặc điểm khá kì lạ của giống này là bao giờ chúng cũng đi có đôi, một đực, một cái và thường dính vào nhau. Người ta bắt chúng từng đôi, bán chúng từng đôi, và làm thịt chúng để ăn cũng từng đôi, thịt con này trộn lẫn thịt con kia. Ít khi gặp riêng từng con, có gặp cũng không ai bắt vì cho đấy là điềm gở.
- Tuyệt! Lãng mạn quá! - anh kia kêu lên hồn nhiên. - Nếu biết làm thơ, tôi sẽ viết ngay một trường ca lâm li về những con sam kì diệu này. Thế nào cũng phải mua một đôi mang về Hà Nội.
- Để treo lên tường làm biểu tượng tình yêu, hay cho cả đôi uyên ương ấy vào xoong? - Tôi đùa, làm anh chàng phần nào cụt hứng.
Tàu chúng tôi cứ thế đi, đi mãi, chầm chậm vượt hết đảo này đến đảo khác. Tôi có cảm giác như vịnh Hạ Long là vô cùng vô tận, và chúng tôi sẽ không bao giờ thoát ra khỏi cái bát đồ trận rối rắm nhưng đẹp mê hồn này. Thỉnh thoảng xuất hiện những chiếc thuyền con nép vào chân núi đá hoặc đứng chơi vơi giữa vịnh. Tôi ngạc nhiên khi thấy trên thuyền có trẻ con, rất nhiều trẻ con.
- Mỗi thuyền là một gia đình đấy, - ông già lái tàu nói. - Trẻ con sinh ra, lớn lên ngay trên mặt nước, có khi cả năm không đặt chân lên bờ.
- Ở đất liền họ không có nhà sao?
- Phần lớn là không.
- Họ sinh sống bằng cách nào?
- Bằng cách dân chài vẫn sinh sống. Đánh cá đổi gạo. Không đổi được gạo thì ăn cá trừ bữa. Không có cá thì nhịn.
- Và trẻ con không đi học?
Ông già không nói gì, chắc cho câu hỏi ấy của tôi là thừa và ngốc nghếch.
- Sao họ không làm nhà ở đất liền, hàng ngày ra biển đánh cá rồi quay về như những nơi khác?
- Cái ấy thì anh phải hỏi họ mới biết được. Đó là một điều khó hiểu, cũng như người ta không hiểu tại sao có dân tộc miền núi thích nay đây mai đó, mỗi năm làm nhà mới mấy lần.
- Dù sao sống thế cũng rất lãng mạn, - anh nhà báo lên tiếng.
- Vâng, nhưng không đến mức anh tưởng đâu. - Ông già trầm ngâm đáp. - Tháng trước có hai vợ chồng cãi nhau, rồi đánh nhau và cùng ngã xuống nước. Chính mắt tôi nhìn thấy. Còn năm kia thì một đứa bé năm tuổi đêm dậy đi đái, rơi xuống biển, thuyền cứ trôi mà bố mẹ ngủ không hay.
Chúng tôi không ai nói gì thêm. Một lúc sau anh nhà báo hỏi:
- Đi X. có hay gặp tai nạn không bác?
Đó là câu không tế nhị mà khi đi biển người ta không hỏi. Tuy nhiên ông già lái tàu vẫn vui vẻ đáp:
- Ít thôi, nhưng cũng có. Gần đây nhất là lần đắm tàu năm ngoái. Cũng của công ty chúng tôi. Cả tàu sáu người chỉ một người sống sót. Anh ta kia, - ông hất hàm chỉ một người đang ngủ trên chiếc gường nhỏ ở buồng lái, mặt úp vào tường - Một mình giữa biển ba ngày ba đêm. May trời ấm, gió thuận nên mới dạt được vào bờ...
- Ba ngày ba đêm? - anh nhà báo thốt lên. - Kinh khủng thật... Nhưng vì sao tàu lại đắm ạ?
- Vì gần tới X. thì thời tiết bất ngờ thay đổi, biển nổi sóng tới cấp bảy, cấp tám, mà tàu quá cũ. Cũng một chiếc chín mươi mã lực như tàu này. Anh ta bơi giỏi, lại khỏe nên mới sống sót. Anh ta là trưởng trạm chế biến thủy sản ở X., vừa rồi về đất liền họp nay trở lại đảo. Biển ấy mà, anh bạn trẻ ạ, không phải bao giờ cũng đẹp và êm ả thế này đâu. Chốc nữa anh sẽ thấy. Tôi sợ hôm nay trời trở chứng và có thể chúng ta phải nằm lại đâu đó chờ vài ngày không chừng.
Đúng như ông nói, vừa tới cửa vịnh, tàu chúng tôi gặp sóng lớn không dám mạo hiểm đi tiếp, đành quay lại trú ở đảo Ngọc Vừng.
Đêm hôm ấy mọi người lên đảo ngủ.
Ngọc Vừng cũng có một trạm chế biến thủy sản. Ở lại tàu chỉ có ông già lái tàu, trưởng trạm X., - người sống sót sau ba ngày ba đêm một mình giữa biển - và tôi. Tôi xin ở lại tàu không phải không có chủ ý. * Trưởng trạm X. đã ngoài bốn mươi, người bé và gầy, có khuôn mặt đen đanh lại vì sóng và gió biển. Anh ít nói, đôi mắt bé lại ít khi mở to nên dễ gây cảm giác khó gần.
Ăn xong, ông già lái tàu chui xuống khoang ngủ ngay, có lẽ vì mệt. Còn tôi và anh trưởng trạm thì ra ngồi trên cột neo trước mũi tàu.
Đêm tháng tư, trời nhiều sao. Ngoài biển sao to và sáng hơn ở đất liền.
Chúng tôi nói chuyện với nhau về thời tiết, về vụ cá năm nay, về Hà Nội và về tình hình biên giới. Nói chung câu chuyện rời rạc, chủ yếu gồm những câu hỏi và những câu trả lời ngắn gọn.
- Anh có thể cho biết bằng cách nào anh thoát chết lần đắm tầu năm ngoái không? - Cuối cùng tôi hỏi điều tôi quan tâm. - Gặp may thôi. Đúng giữa lúc sóng dữ nhất thì máy hỏng, con tàu nghiêng ngả, nước ập vào rồi chìm. Mọi người nằm dưới khoang, còn tôi ở buồng lái nên chui ra kịp. Đi biển bao giờ tôi cũng ngồi hoặc nằm ở buồng lái. Sau một hồi vật lộn với sóng, bị trôi dạt khá xa, tình cờ tôi vớ được chiếc phao xăm ô tô. Thế là thoát, nhưng phải lênh đênh trên biển ba ngày ba đêm như anh biết.
- Chắc anh đói và mệt lắm?
- Tất nhiên, lại sợ nữa, sợ gió đổi chiều đưa tôi xa bờ hơn. Cũng may lần ấy tôi nhặt được một con cá rất to không hiểu vì sao bị chết. Đoán có thể còn lâu mới tới bờ, tôi ăn dè sẻn từng tí một, ăn hết chẳng sót cái gì, kể cả phần ruột đắng. Đỡ đói đã đành, nhưng điều quan trọng nhất là đỡ khát. Khát mới thực sự đáng sợ.
- Nghĩa là lần ấy chỉ mình anh sống sót? - tôi hỏi mặc dù ban ngày ông già lái tàu đã cho biết điều đó.
- Vâng, lúc đầu tôi tưởng có thể người khác cũng vớ được phao hay mảnh ván như tôi, nhưng sau hóa ra chỉ mình tôi sống sót.
- Khi tàu chìm, anh không thấy ai xung quanh à?
- Không. Sóng to quá... - anh đáp rồi im lặng như đắn đo điều gì, một lúc sau mới nói tiếp: - Lúc tàu chìm thì không, nhưng khi vớ được phao, tôi nhìn thấy một người đang vật lộn với sóng cách tôi khoảng một trăm mét. Đó là ông trưởng phòng tổ chức cơ quan tôi. Chẳng hiểu lần ấy ông ta ra đảo làm gì để gặp tai nạn thế này. Ông ta cũng là người bơi giỏi, nhưng không có cái may gặp phao như tôi. Lúc đầu tôi tưởng ai đó trong đám thủy thủ, liền vội bơi đến cứu, nhưng khi nhận ra ông ta thì tôi dừng lại. Suy nghĩ một lát, tôi quyết định coi như không nhìn thấy...
Tôi sửng sốt nhìn con người đang ngồi bên, nói câu kia một cách đơn giản và thẳng thừng như vậy.
- Anh ngạc nhiên muốn biết vì sao chứ gì? Tôi sẽ nói. Từ trước tới nay tôi không nói điều này với ai, không phải sợ mà vì không muốn. Nhưng hôm nay tôi nói. Đừng nghĩ tôi thích hoặc tin anh. Không, xin lỗi, nói chung tôi không cảm tình lắm với dân làng văn, làng báo các anh. Vì sao thì các anh tự biết. Dân gian đã nói điều đó. Nhưng thôi, việc các anh các anh làm, việc tôi tôi làm.
Quay lại chuyện ông trưởng phòng kia. Đúng, tôi đã không cứu ông ta, vì ông ra không đáng để tôi trả giá. Cái phao to và chắc thật, có thể cứu sống cả hai, nhưng cũng có thể vì thêm ông ta, tôi sẽ chết. Xin anh đừng quên điều đó và tạm thời không ngắt lời tôi. Tôi sẽ giải thích tất cả. Ông ta, người ngẫu nhiên cũng rơi vào hoàn cảnh hiểm nghèo như tôi, là một người xấu, không những không giúp ích gì cho xã hội mà còn ngược lại. Cái ghế trưởng phòng ông ta đạt được bằng thủ đoạn, nịnh hót và lừa đảo. Làm việc với nhau hai mươi năm nay, tôi lạ gì hắn.
Cuộc sống ở đảo rất vất vả, buồn chán, điều ấy chắc anh biết. Tất nhiên không ai thích ra đảo nếu không bị bắt buộc. Một số người, để được ở đất liền, đã tìm cách đút tiền cho hắn. Hắn nhận, nhưng khôn khéo và tinh vi nên chẳng ai làm được gì. Phần vì hắn phụ trách tổ chức, phần không có bằng chứng. Để thế chỗ kẻ hối lộ cho hắn, hắn cử những người không ăn cánh ra đảo, hoặc bắt các cô gái từ lâu đến hạn được về đất liền phải ở lại thêm một thời gian nữa. Bao lâu có trời mới biết - một năm, hai năm, năm năm, có thể suốt đời. Phần lớn người ở ngoài đảo là các cô gái. Hơn ai hết họ phải trở về để lấy chồng. Bao giờ hắn cũng tìm được lí lẽ không ai cãi được. Các cô ấy đòi về à? Hắn sẽ đem lí tưởng và nghĩa vụ người đoàn viên ra nói. Anh suy bì người này người nọ? Hắn viện đến tinh thần trách nhiệm, đến yêu cầu cấp bách của công tác, và nhất định thế nào hắn cũng nói rằng anh là người không thể thay thế được. Về mặt xảo quyệt có lẽ ít ai bằng hắn.
Vâng, hắn là người thế đấy. Ai cũng biết nhưng ai cũng sợ, không muốn gây sự với hắn. Còn tôi thì không. Tôi đã thẳng thắn đấu tranh với hắn trong một cuộc họp chi bộ. Rồi sau anh biết thế nào không? Trước tổ chức Đảng, hắn "chân thành" nhận "có một vài khuyết điểm trong công tác” và hứa sửa chữa. Có điều mấy tháng sau tôi có quyết định ra đảo phụ trách cái trạm chế biến thủy sản mà ta sắp tới, mặc dù lúc ấy tôi đang theo học hàm thụ năm cuối trường Kinh tế. Cả lần này hắn cũng tìm được những lí do mới nghe có vẻ hợp lí... Vậy thì tôi hỏi anh, vì cớ gì tôi phải liều mạng sống của mình để cứu một con người như hắn, một người mà tôi biết sự tồn tại chỉ mang lại tai họa cho người khác, dưới dạng này hoặc dạng nọ?
Anh trưởng trạm im lặng, nhưng chắc không phải chờ tôi trả lời.
- Anh không bao giờ thấy lương tâm cắn rứt sao?
- Hoàn toàn không. Ngược lại, nếu cứu hắn sống, lương tâm tôi mới cắn rứt.
Chúng tôi im lặng một lúc khá lâu.
- Có thể những điều anh nói là đúng, - cuối cùng tôi lên tiếng, - nhưng về mặt nhân đạo, giữa con người với con người, thì dù sao...
- Vâng, tôi hiểu anh muốn nói gì, - anh trưởng trạm xen ngang. - Tuy nhiên, xin anh chớ quên rằng tôi chỉ không cứu chứ không giết hắn. Hai cái ấy hoàn toàn khác nhau. Vả lại tôi không cứu không phải vì muốn trả thù hoặc lo cho tính mạng mình lúc đó. Vấn đề ở đây lớn hơn nhiều. Một vấn đề có tính nguyên tắc.
Nói đoạn anh đứng dậy, ngước nhìn bầu trời chi chít sao rồi ngáp một cái thật dài. Sau đó cả hai chúng tôi cùng lên giường ngủ.
Nằm trong chăn, chúng tôi nói chuyện thêm chốc nữa. Nhờ đó tôi biết được rằng trưởng phòng tổ chức công ty bây giờ là người khác và công việc tốt hơn xưa. Một số cô gái được chuyển vào đất liền, nhưng phần lớn còn ở ngoài ấy. Đơn giản vì một lúc không thể tìm được chừng ấy người thay thế. Còn anh trưởng trạm đang nằm bên tôi thì năm ngoái được tổ chức cho về đất liền học nốt chương trình đại học hàm thụ, mà thời hạn biệt phái công tác cũng đã hết, nhưng anh tình nguyện ở lại đảo thêm một thời gian nữa.
- Lúc này mà bỏ các cô ấy một mình ngoài kia để chuồn về thị xã thì còn mặt mũi nào. - Anh lẩm bẩm nói, trở lưng quay mặt vào tường và ngủ thiếp.
Còn tôi nằm thao thức mãi. Lơ đãng nhìn lên mảnh trời con hình vuông, bàng bạc trên boong tàu, tôi miên man suy nghĩ như muốn tìm trên đó ý nghĩa về cái lô-gích của "vấn đề nguyên tắc" anh trưởng trạm vừa nói, về việc anh có thể nhẫn tâm bỏ mặc một đồng nghiệp chết đuối giữa biển, nhưng không nỡ bỏ các cô gái khỏe mạnh ở lại trên đảo để về đất liền. Sáng hôm sau biển lặng hơn. Chúng tôi lại đi tiếp.
Vừa ra tới cửa vịnh, anh nhà báo đã say sóng phải nằm yên một chỗ. Anh trưởng trạm vẫn ngủ trên chiếc gường nhỏ ở buồng lái, hai tay ôm đầu như trẻ con. Ông già lái tàu im lặng đứng bên tay lái để điểu khiển con tàu tránh những đợt sóng lớn đang chồm lên giận dữ.
Không hiểu sao một ý nghĩ lạ lùng và rất buồn cười cứ vương vấn mãi trong đầu tôi, ý nghĩ rằng nếu không may lần này gặp tai nạn, không biết con người nhỏ bé có nước da ngăm đen đang ngủ kia có cứu tôi không, tôi, một đại diện của giới văn nghệ mà anh "không thích lắm". Quảng Ninh, 1984
|