Trang chủ arrow Thơ dịch arrow CỔ THI TÁC DỊCH 6
CỔ THI TÁC DỊCH 6 PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân   
01/09/2009

VƯƠNG CHI HOÁN

Tác giả: Sinh năm 695, mất năm nào không rõ, người Biện Châu (nay là tỉnh Sơn Tây), cùng với Cao Thích, Vương Xương Linh và Sầm Tham là những nhà thơ biên tái xuất sắc; chỉ một ít bài thơ của ông được lưu truyền lại.

367. Lên lầu Quán Tước

Sông Hoàng hòa với biển.
Nắng núi tắt từ lâu.
Muốn nhìn xa hơn nữa,
Phải lên tiếp một lầu.

368. Ra biên ải

Sông Hoàng như chảy vào mây trắng.
Một mảnh thành trơ giữa núi ngàn.
Sáo Khương thôi chớ hờn dương liễu,
Theo gió xuân về với Ngọc Quan!


THÔI QUỐC PHỤ

Chưa rõ tiểu sử tác giả

369. Cổ ý

Thềm Hoàng Kim quét sạch.
Tuyết bay như sương mù.
Buông rèm, đàn tư lự,
Không nỡ ngắm trăng thu.

370. Lời oán

Bên lầu, đào lơ thơ,
Mặt hồ hoa sen úa.
Dải gấm dệt chưa xong,
Tiếng trùng xuyên vách lụa.


THIÊN BẢO CUNG NHÂN

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, cả tên họ, quê quán và cuộc đời cũng vậy, chỉ biết đây là một cung nữ thời Thiên Bảo, đời Đường Huyền Tông.

371. Lại đề thơ trên lá ngô đồng
trong vườn Thượng uyển

Ra khỏi cấm thành, chiếc lá thơ,
Có ai họa lại, biết bao giờ?
Giá được ra đi như chiếc lá,
Trôi giữa dòng đời, thỏa ước mơ.


TRƯƠNG BẬT

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tên chữ là Tự Trừng, người Hoài Nam, nay là Dương Châu, Giang Tô, làm quan Huyện úy Nam Đường rồi đến Trung Thư xá nhân. Tác phẩm: Toàn Đường Thi có 19 bài.

372. Thăm nhà họ Tạ

Ngà ngà tìm đến Tạ gia chơi.
Lắt léo đường hiên chẳng thấy người.
Chỉ trăng đa cảm trong vườn vắng,
Buồn buồn soi bóng cánh hoa rơi.


LƯƠNG HOÀNH

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tính tình phóng khoáng, năm 40 tuổi mới được giữ một chức quan nhỏ gọi là chấp kích; quen thân với Sầm Than, Lý Cố, Tiền Khởi. Toàn Đường Thi có 15 bài của ông.

373. Vịnh tượng gỗ

Đẽo gỗ, đeo tơ làm tóc râu.
Như thật thoáng nhìn, nhưng chốc sau
Khi diễn xong trò, nằm một xó.
Đời người cũng vậy, khác gì đâu.


BÔNG KIẾM LỘC

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết là người nô bộc mang kiếm cho chủ, nên mới có tên Bổng Kiếm Bộc, ở Hàm Dương, "Toàn Đường Thi" có ba bài của ông.

374. Thơ

Con chim đậu bờ giếng,
Mỏ ngậm một bông hoa.
Người đẹp e chim sợ,
Không vén rèm nhìn xa.


LÝ ÍCH

Tác giả: Sinh năm 748, mất 829, tự Quân Ngu, người Cô Tạng, nay thuộc tỉnh Cam Túc, đỗ tiến sĩ năm 769, từng giữ nhiều chức quan, tới Thượng thư bộ lễ. Tác phẩm: có "Lý Quân Ngu thi tập".

375. Đêm trên thành Thụ Hàng, nghe tiếng sáo

Hồi Lạc cát giăng ngời ánh tuyết.
Thụ Hàng bóng nguyệt tắm trong sương.
Sáo đâu ai thổi nghe day dứt
Cho người chiến trận nhớ quê hương.

376. Bài hát Giang Nam

Làm vợ người buôn bán.
Hẹn mà nhỡ hẹn hoài.
Biết thủy triều đúng hẹn,
Thà làm vợ anh chài.

377. Vừa mừng được gặp người em
họ ngoại, lại phải chia tay

Sau mười năm loạn lạc,
Giờ gặp nhau ở đây.
Hỏi họ tên mới biết.
Cả hai đều đổi thay.
Đời biết bao dâu bể,
Ôn lại đến tối ngày.
Hôm sau lại đi tiếp.
Trập trùng núi phủ mây.

378. Lên lầu Quán Tước

Cột buồm trăm thước phía đằng xa.
Nước biếc cây xanh, một vệt nhòa.
Trống, tiêu nhà Hán vang trên sóng.
Núi Ngụy đang phơi dưới nắng ta.
Chuyện cũ nghìn năm còn quá ngắn.
Buồn mới một ngày cũng xót xa.
Nhìn xuân vời vợi, cay trong mắt,
Khói sóng bâng khuâng nỗi nhớ nhà

 

HÀN THÚY VÂN

Tác giả: Năm sinh, năm mất và sự nghiệp không rõ, tương truyền là cung nhân đời Đường Duyên Tông, nay chỉ còn lại bài thơ này.

379. Thơ đề trên lá đỏ

Nước thì luôn vội vã.
Ta trong cung ngồi chơi.
Nhờ nước mang ra hộ
Bài thơ này cho đời.


CÁT NHA NHI

Tác giả: Năm sinh, năm mất và sự nghiệp không rõ, còn ba bài thơ trong "Toàn Đường thi".

380. Nhớ chồng

Chẳng sao trâm gỗ, dáng nhà quê,
Áo cưới xuềnh xoàng chẳng dám chê.
Chỉ trách không người gieo lúa mới,
Và đến hẹn về, không thấy về.


THÁI THƯỢNG ẨN GIẢ

Tác giả: Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp không rõ, chỉ biết ông là một ẩn sĩ theo Đạo giáo đời Đường, chỉ lưu lại duy nhất bài thơ này.

381. Trả lời

Kê đầu lên gối đá,
Nằm ngủ dưới gốc thông.
Trong núi chẳng có lịch,
Không biết đã hết đông.


HỒ TĂNG

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất; tự Thu Điền; người Thiều Dương nay thuộc tỉnh Hồ Nam, đỗ tiến sĩ, từng giữ nhiều chức quan khác nhau, còn lưu được 160 bài.

382. Cầu Dự Nhượng

Dự Nhượng 1) đền ơn... câu chuyện này
Tiếng thơm lưu mãi đến ngày nay.
Nhưng hỏi mấy người như Dự Nhượng
Trong số bao người đã tới đây?

(1) Dù Nh­îng lµ ng­êi n­íc TÊn thêi Xu©n Thu ChiÕn Quèc, b¹n cña TrÝ B¸ lµ quan n­íc TÊn. TrÝ B¸ cã hiÒm khÝch víi vua TÊn, Dù Nh­îng gi¶ ®iªn t×m c¸ch giÕt vua TÊn ®Ó gióp b¹n, nh­ng kh«ng thµnh, bÞ b¾t. Tr­íc khi chÕt, Nh­îng xin ®­îc m­în vua chiÕc ¸o, tr¶i ra ®Êt, vôt mÊy roi cho h¶ giËn. Tõ ®ã Nh­îng næi tiÕng lµ bËc quèc sÜ, trung thÇn.


TƯỞNG DI CUNG

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, người Giang Hoài, từng làm Huyện lệnh Đại Phiến. "Toàn Đường thi" có hai bài.

383. Vịnh tượng Kim Cương

Trừng mắt, nhíu mày, vểnh cả râu,
Giống thật từ chân đến tận đầu.
Tưởng dọa được đời, ra vẻ lắm,
Nhưng trong toàn đất, có gì đâu.


TRỪ QUANG HY

Tác giả: Sinh năm 707, mất 760, người Sơn Đông thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay; đỗ tiến sĩ năm 726, làm quan đến chức Giám sát ngự sử. Tác phẩm: "Trừ Quang Hy tập" gồm 210 bài.

384. Đi qua Trường An

Đi ngựa qua quán rượu,
Liền vén áo vào chơi.
Một lúc tiêu trăm vạn,
Không thèm nói nửa lời.

385. Đường Lạc Dương

Ngày xuân, trời ấm áp,
Đường thẳng, rộng thênh thang.
Ngũ Lăng 1) quý công tử
Sóng ngựa đi thành hàng.

(1) ChØ n¬i ë cña c¸c nhµ quyÒn quý.


LÝ ĐỊCH CHI

Tác giả: Không rõ năm sinh, mất năm 747, người Lũng Tây nay thuộc tỉnh Cam Túc, từng giữ nhiều chức lớn trong triều. "Toàn Đường thi" còn lưu lại được hai bài thơ.

386. Viết khi thôi không còn làm tướng

Nhường người hiền chức tướng,
Về quê say suốt ngày.
Được mấy người khách cũ
Tới thăm ta hôm nay?


THÔI LỖ

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, người Kinh Nam nay thuộc tỉnh Hồ Bắc; đỗ tiến sĩ năm Quảng Minh đời Hy Tông, làm Tư Mã Lệ Châu "Toàn Đường thi" có 16 bài.

387. Cung Hoa Thanh

Lấp đường cỏ mọc, vắng xe loan.
Bích Điện âm u, bặt tiếng đàn.
Tự đi, tự đến, trăng đơn độc,
Không còn người đẹp tựa lan can 1).

(1) §ªm mïng b¶y th¸ng b¶y §­êng Minh Hoµng cïng D­¬ng Quý Phi ngåi ë lan can ®iÖn Thanh Hoa, chØ tay lªn trêi thÒ sèng chÕt cã nhau. Nay trªn trêi tr¨ng ®Õn råi tr¨ng ®i mµ ng­êi x­a tõng tùa lan can cïng vua ng¾m tr¨ng kh«ng cßn n÷a.


TÔ DĨNH

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Diêm Thạc, làm tể tướng đời Đường Huyền Tông (713-755).

388. Trên Sông Phần, sợ mùa thu

Sông Phần xa vạn dặm.
Gió bấc thổi, sương mù.
Đang buồn, lòng bối rối,
Không nghe rõ tiếng thu.

KIM XƯƠNG TỰ

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, người Lâm An, nay thuộc tỉnh Chiết Giang. "Toàn Đường thi" chỉ còn bài này, các bản chép là "Xuân oán".

389. Bài ca Y Châu

Hãy xua con chim nhỏ,
Đừng cho hót trên cây,
Làm thiếp luôn tỉnh giấc
Không đến được Liêu Tây.


TỊCH HUỲNH

Tác giả: Nhà thơ thời Vãn Đường, không rõ năm sinh và năm mất. Tác phẩm: "Động đình tập".

390. Ngày thu trên hồ

Ngũ hồ, ngày đang tắt.
Khói sóng, cảnh gợi sầu.
Nổi trôi cần gì biết
Nước đang xuôi về đâu.


CẢNH VI

Tác giả: Không rõ tiểu sử, chỉ biết ông người Hà Đông, làm chức tả thập di năm Đại Lịch (766 - 779).

391. Ngày thu

Nắng chiều len tận ngõ.
Trò chuyện cùng ai đây?
Đường xưa giờ vắng khách.
Đồng lúa gió lung lay.


LÝ NGANG

Tác giả: Sinh năm 809, mất năm 840, tức Đường Văn Tông, làm vua 14 năm, bị gian thần và hoạn quan giết chết.

392. Thơ đề trong cung

Đường xe vua cỏ mọc.
Thượng Lâm hoa muôn màu.
Trên cao ý nghĩ rộng.
Chật hẹp chốn thâm sâu.


LÝ GIA HỰU

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tự Tòng Nhất, người Triệu Châu nay thuộc tỉnh Hà Bắc, đỗ tiến sĩ năm 748, làm quan tới chức Thứ sử Viên Châu. "Toàn Đường thi" còn hai bài

393. Lầu trúc

Ngũ Hầu quan lớn chẳng bằng ta:
Tây Giang thanh thản, lầu thay nhà.
Gió nam thổi mát không cần quạt.
Hết ngủ, cùng chim lại ngắm hoa.


DƯƠNG SĨ NGẠC

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

394. Lên lầu

Thành cổ xác xơ bóng liễu hòe.
Đêm qua mưa lớn, nước đầy khe.
Con đường phía nam không xe ngựa.
Lên gác một mình, chợt nhớ quê!


VƯƠNG BIỂU

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, đỗ tiến sĩ năm 779, làm quan đến chức Bí thư thiếu giám. "Toàn Đường thi" còn được ba bài

 

395. Ở thành Đức Lạc

Lên lầu Triệu Nữ ngắm hoa xuân.
Đang vui lại hát "Khúc Quan San".
Thành xuân bỗng chốc thành thu úa.
Dẫu không là lính, lệ dâng tràn.


QUYỀN ĐỨC HƯNG

Tác giả: Sinh năm 759, mất năm 818, tự Tải Chi, người Tần Châu, nay thuộc huyện Cam Túc, Sớm nổi tiếng giỏi văn thơ, làm quan đến chức thừa tướng. " Toàn Đường thi" còn khoảng 10 quyển thơ ông.

396. Trên núi, gặp người xa nhau đã lâu, rồi lại xa

Xa nhau một loáng đã mười xuân.
Bây giờ lại gặp lúc hành quân.
Rồi ngựa quay đầu, người một hướng.
Trên núi xa xa, nắng tắt dần.


NGUYÊN CHẨN

Tác giả: Sinh năm 779, mất 831, tự Vi Chi, người Lạc Dương, Hà Nam, từng làm quan, bạn thân với Bạch Cư Dị, là nhà thơ nổi tiếng đời Đường. Ông còn là tác giả cuốn truyện "Hội Chân ký" mà sau này Vương Thực Phủ dựa vào để soạn lên cuốn Tây Sương ký. Tác phẩm: "Nguyên thị Trường Khách tập", gồm 60 quyển, trong đó có 26 quyển thơ, ước khoảng 800 bài.

397. Nghe tin Lý Bạch bị giáng làm Tư Mã Giang Châu

Trong đêm leo lắt ngọn đèn dầu,
Nghe bác bị đầy đi Giang Châu,
Đang ốm mà lo, ngồi bật dậy.
Gió lạnh, mưa thu tạt ướt lầu.


TRƯƠNG HỖ

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tự Thừa Cát, người Nam Dương, nay thuộc tỉnh Hà Nam, suốt đời là một xử sĩ. Tác Phẩm: "Trương xử sĩ thi tập".

398. Tặng cung nữ

Cung cấm trăng soi tán lá mềm.
Đôi cò trong tổ ngước lên xem.
Bên đèn, khẽ rút cành trâm ngọc,
Gạt đốm lửa tàn cứu bướm đêm.


LỆNH HỒ SỞ

Tác giả: Sinh năm 766, mất 837, tự Xác sĩ, người Đôn Hoàng, nay thuộc tỉnh Cam Túc. Ông đỗ tiến sĩ năm 791, làm quan đến chức Thượng thư Bộc xạ. Trong “Toàn Đường Thi” ông có một quyển.

399. Chờ ân vua

Vườn nhỏ chim oanh hót.
Bướm bay nhiều cửa đông.
Lại thấy mùa xuân đến,
Nhưng không thấy xe rồng.

400. Bài hát của người đi lính

Gió bắc thổi nghìn dặm.
Đêm khuya, trăng xế tà.
Tai nghe trống trận dục.
Đầu mơ được về nhà.


TIẾT OÁNH

Tác giả: Không rõ tiểu sử. "Toàn Đường thi" còn lưu ba bài thơ của ông.

401. Ngày thu trên hồ

Ngũ Hồ nắng tắt, cánh buồm nâu.
Đâu cũng mênh mang khói sóng sầu.
Chìm nổi sự đời luôn vẫn vậy.
Cần gì phải hỏi nước về đâu?


TRỊNH NGAO

Tác giả: Sinh năm 865, mất 939, tự Vân Du, người Hà Nam, thi nhiều lần không đỗ, sau đó ở ẩn suốt đời. "Toàn Đường thi" còn 19 bài.

402. Khúc hát về sự giàu sang

Người đẹp khi trang điểm,
Cài trâm, đeo nữ trang,
Có biết tay và tóc
Đeo thuế của mấy làng?


NHUNG DỤC

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ. Người Kinh Nam, nay là Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Thứ sử Thần Châu. Thơ thiên về tả cảnh, trữ tình nội tâm. Tác phẩm: "Nhung Dục thi tập" khoảng 120 bài.

403. Tiễn nhau ở đình bên hồ

Hồ xuân gợn sóng, liễu xanh rì.
Bên đình lưu luyến phút chia ly.
Quen sống bên ngoài, chim chích nhỏ
Hót vài ba tiếng tiễn người đi.

404. Ở đất khách, gửi cho quan
Trương lang trung tận Hồ Nam

Sông lạnh, nước tràn, dạ vấn vương.
Bóng trăng gặp trúc, rối bên đường.
Trong mơ không biết hồ rất rộng.
Đêm lại quay về đất Lạc Dương.

405. Họa bài thơ “Đêm thu ở lại trực, xem mưa”,
gửi cho bạn tri kỷ của đô quan viên ngoại họ Miêu

Nam cung, trời mưa mãi.
Ở lại trực nơi đây.
Đêm dài ngoài cửa phượng.
Thu lạnh, trời đầy mây.
Đom đóm bay vào cửa.
Chim kêu ngoài vườn cây.
Quan và dân đều vắng.
Tiểu Tạ 1) có thơ này.

1. Tức Tạ Diễu (464 – 499), nhà thơ thời Lục Triều, nổi tiếng về thể thơ ngũ ngôn, còn được gọi là Tiểu Tạ để phân biệt với Tạ Linh Vận (385 – 433, Đại Tạ), một nhà thơ khác thời Nam Bắc Triều.


DƯƠNG CỰ NGUYÊN

Tác giả: Sinh Năm 755, mất không rõ năm nào, người Hà Trung nay thuộc tỉnh Sơn Tây, đỗ tiến sĩ năm 789, từng giữ nhiều chức quan khác nhau, hay xướng thơ với Bạch Cư Dị. "Toàn Đường thi" còn hai quyển của ông.

406. Họa bài thơ "Dương Liễu" của tú tài họ Luyện

Liễu rủ bờ sông mái tóc xanh.
Dừng ngựa chờ anh hái một cành.
Tình ý, gió xuân nhè nhẹ thổi
Vào nhánh liễu gầy trong tay anh.

407. Ở phía đông thành, tiết xuân sớm

Nơi nhà thơ ở chớm xuân sang.
Liễu nửa còn xanh, nửa đã vàng.
Vườn cổ Thượng Lâm hoa nở rộ.
Ngắm hoa, vãn cảnh khách từng hàng.

408. Tiễn pháp sư Phụng Đình trở về An Nam

Quê ở xứ Nam Việt.
Muôn dặm mây năm màu.
Bái biệt vua, trở lại
Nơi núi cao, biển sâu.
Sáng tụng kinh trước sóng.
Chiều ngồi thiền trên lầu.
Trường An hãy nghĩ trước,
Rồi mới đến Giao Châu.

409. Tiễn Đạm Công về chùa Long Đàm
ở núi Tung để chôn cất sư thầy

Khói đồng, nước biếc buổi ban mai.
Đi ở thảnh thơi, bước dặm dài.
Bốn cây làm cột nâng nhà lá.
Nghìn hoa thành bệ dựng thiền đài.
Đi đến gặp rồng nơi động ngọc.
Theo chim trở lại chốn phòng trai.
Bên cốt sư thầy, đừng bịn rịn.
Cửa không 1) không đóng, chẳng then cài.

1. Cửa nhà Phật.


QUYỀN ĐỨC DƯ

Tác giả: tự Tái Chi, người Lạc Dương. Chưa rõ năm sinh, năm mất. Làm quan đến chức Lại  bộ thượng thư. Tác phẩm: "Quyền Văn Công tập".

410. Khúc Ngọc Đài Thể

Suốt đêm chờ trằn trọc.
Người đi xa về rồi.
Vội tô mày, chải tóc,
Không kịp lấy gương soi.


HOÀNG PHỦ NHIỄM

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, đỗ tiến sĩ năm 756, tự Mậu Chính, người An Định (Cam Túc).

411. Nỗi oán của nàng Tiệp Dư 1)

Từ điện Kiến Chương cung nữ ra.
Chiêu Dương lầu gác rộn lời ca.
Thử hỏi người vua ân sủng vậy,
Đôi mày có dài hơn mày ta?

(1) Mét cÊp bËc cña cung n÷. TiÖp D­ ë bµi nµy lµ nµng Ban TiÖp D­, cã tµi s¾c ®­îc vua yªu, sau TriÖu Phi YÕn vµo cung, vua nh¹t t×nh, ph¶i sang hÇu Th¸i hËu.

412. Quán trên núi

Quán trên núi vắng người.
Sớm chiều mây đơn độc.
Ngoài sân, ánh mặt trời
Như dính vào rêu mốc.


LẠNG SĨ NGUYÊN

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

413. Tiễn bạn

Tuyết rơi từ sáng, trời không mây.
Thổi dồn gió bắc, én không bay.
Tiếc nghèo, tiễn bạn không quà tặng.
Chỉ có màu xanh ngọn núi này.


UNG DỤ CHI

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

414. Liễu bên sông

Bên sông tha thướt liễu buông cành.
Mờ mờ như khói một bờ xanh.
Ứớc gì có thể đem tơ liễu
Làm dây níu giữ được thuyền anh.


TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết đậu tiến sĩ năm 779, làm quan đến chức Trung thư xá nhân.

415. Khúc hát đêm thu

Nước đồng hồ nhỏ suốt năm canh.
Mây tản, trăng khuya lộ một vành.
Áo chiến ba quân chưa nhận được,
Thu sang sương giá, lạnh sao đành?

416. Qua vườn Hán Uyển

Thái Dịch én về, chấp chới bay.
Muôn màu Hán Uyển hoa trên cây.
Xuân đẹp dành chung cho tất cả.
Mấy ai được hưởng trọn xuân này.


DÃ TĂNG

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

417. Vịnh trăng

Mồng bốn trăng non, một mảng mờ,
Như rắn khoanh tròn, như cuộn tơ.
Hồ con nước lặng, trăng hai nửa.
Nửa bơi dưới nước, nửa trên bờ.


TĂNG CHÍ AN

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

418. Tuyệt cú

Bến sông, thuyền nhỏ cột bên lầu.
Mình ta chống gậy bước qua cầu.
Gió thổi đầu trần không thấy lạnh.
Sương hoa quệt áo, ướt từ lâu.


TÀO BÂN

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Liêm Giang, người Hồ Châu.

419. Xuân muộn

Không người thương xót cánh hoa rơi.
Màu xanh trải rộng đến chân trời.
Trong núi oanh kêu gần lạc giọng,
Bãi cỏ bên ao, ếch đáp lời.


MẠNH TRÌ

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

420. Lời than của vũ nữ cung Trường Tín

Vua không cần nữa, biết đi đâu?
Nhan sắc tàn phai, luống ngậm sầu.
Giận mình không thể như chim én,
Xuân về bay lượn trước rèm châu.


ĐOÀN THÀNH THỨC

Tác giả: Không rõ năm sinh, mất 863; tự Kha Cổ, người Tề châu, nay thuộc tỉnh Giang Tô.

421. Khúc hát Chiết Lương Liễu Chi

Thấm mưa, nụ hé, lá xanh màu.
Trường Môn bóng liễu quyện vào nhau.
Vắng bóng xe loan, xuân sắp hết.
Hoàng hôn, oanh yến hót bên lầu.

422. Bài hát bẻ cành dương liễu

Nhờ ơn mưa móc mọc chồi non,
Liễu buông chằng chịt trước Trường Môn.
Xe loan thôi đến, xuân đang hết.
Buồn buồn oanh hót gọi hoàng hôn.


VƯƠNG HÀN

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, người Tấn Dương, tự Tử Vũ, đỗ tiến sĩ, làm quan đến Công bộ viên ngoại lang .

423. Hát ở Lương Châu

Trống giục lên đường, tiếng ngựa xe.
Rượu nhiều, còn muốn uống thỏa thuê.
Binh sĩ có say, xin chớ trách -
Xưa nay chinh chiến mấy ai về?


LÝ NGAO

Tác giả: Không rõ năm sinh năm mất, tự Tập Chi, người Triệu Quân, từng theo Hàn Dũ tập làm văn. Đỗ tiến sĩ, làm đến chức Tiết độ sứ Sơn Nam. Tác phẩm: Luận ngữ bút giải Ngũ mộc kinh, Lý văn công tập....

424. Sống ở nơi yên tĩnh

Chọn được nơi này sống thảnh thơi.
Không đón đưa ai, thoát nợ đời.
Thỉnh thoảng hứng lên, lên đỉnh núi,
Vén mây kêu một tiếng vang trời.


BÙI ĐỘ

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất; đỗ tiến sĩ năm 805, từng làm tới chức tể tướng  cuối đời từ quan về ở ẩn, vui thú thơ rượu với bạn bè, như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích...

425. Nhà bên suối

Suối chảy ngay trước nhà.
Lều tranh, tán lá xoà.
Bụi trần không đến được.
Chim nước kêu xa xa.


CHÍ AN

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất và quê quán, chỉ biết ông là một nhà sư sống vào đời vua Hy Tông (874 - 888).

426. Tuyệt cú

Cột chiếc thuyền con bên gốc cây,
Chống gậy tới cầu ở phía tây.
Khóm liễu gió lùa không thấy lạnh.
Như mưa hoa rụng, ướt bàn tay.


TƯ MÃ LỄ

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

427. Nỗi oán trong cung

Lơ thơ bóng liễu rủ trước lầu.
Oanh kêu man mác gợi thêm sầu.
Năm năm hoa rụng không ai ngó,
Theo suối ra ngoài trôi đến đâu?


TRƯƠNG LAI

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

428. Mưa buổi sáng sớm

Núi biếc, sông xanh, mây vấn vương.
Mưa lên vách liếp, hoa bên đường.
Con chim an ủi người đơn độc -
Hót lên nghe giống giọng quê hương.


CỐ HUỐNG

Tác giả: Sinh 725, mất 785, người Hải Diêm, Tố Châu, nay thuộc tỉnh Giang Tô, có tài thơ, vẽ và viết chữ đẹp, thích khôi hài, trào phúng, đỗ tiến sĩ niên hiệu Chí Đức (756 - 757).

429. Nghe tiếng tù và, nhớ quê

Vườn phủ rêu xanh, vàng lá rụng.
Ngoài thành ếch nhái gọi râm ran.
Khó ngủ còn vì không gặp được
Người đang đi dưới ánh trăng tàn.

430. Bài từ trong cung

Tiếng đàn, tiếng hát bên lầu ngọc.
Rất vui cười nói các cung tần.
Tí tách giọt đồng, trăng đã mọc.
Vén rèm, tưởng với được sông Ngân.


LÂU DĨNH

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

431. Phiến đá Tây Thi

Tây Thi giặt lụa ở nơi này,
Bây giờ hòn đá phủ rêu dày.
Một chuyến Cô Tô không trở lại.
Trên bờ mận nở nào ai hay?


TRẦN ĐÀO

Tác giả: Sống khoảng giữa thế kỷ thứ 9, người Quách Dương, nay là Quảng Tây, đỗ tiến sĩ đời Đường, làm quan đến chức Thứ sử Dương Châu. Tác phẩm: "Tào Từ bộ tập".

432. Bài hát Lũng Tây

Liều thân tiêu giặc diệt Hung Nô,
Năm nghìn tướng sĩ chết đất Hồ.
Vô Định đống xương nằm dưới mộ,
Thương ở quê xa vợ vẫn chờ.


LA ẨN

Tác giả: Sinh năm 833, mất năm 909, tự Chiêu Đông, người Dư Hàng, nay thuộc tỉnh Chiết Giang, thi tiến sĩ mười lần không đỗ. Tác phẩm: "La Chiêu Đông tập".

433. Tặng kỹ nữ Vân Anh

Chung Lăng cách biệt chục năm nay,
Giờ gặp Vân Anh ở chốn này.
Ta chưa thành nghiệp, nàng đơn độc.
Có lẽ chúng mình không gặp may.

434. Tự khuây khỏa

Thường vui khi được, mất thì buồn.
Buồn lắm hận nhiều, chỉ héo hon.
Hôm nay có rượu, thì vui đã.
Mai có việc buồn, mai hẵng buồn.

435. Nàng Tây Thi

Vận nước luân hồi thịnh lại suy.
Người Ngô sao mãi oán Tây Thi?
Đã đành vì nàng mà Ngô mất,
Nhưng Việt thì sao, bởi cái gì?

436. Hoa đào

Man mác mùi hương, thấm áo quần.
Hoa đào bất chợt nở ngoài sân.
Nửa dặm ánh hồng tường Tống Ngọc.
Long lanh vài cánh chén Văn Quân.
Suốt ngày vắng vẻ, nhà u ám.
Gặp lúc trời mưa, buồn bội phần.
Dưới núi sự đời e vẫn thế.
Ngoái đầu nhìn lại, buồn cho xuân.

437. Nghĩ về mùa xuân khi ở sông Khúc

Nắng xuân lại ấm, sắc hoa phô,
Lòng người vẫn thế, vẫn buồn lo.
Bạn rượu Cao Dương nay hết nửa.
Dáng núi Chung Nam vẫn hững hờ.
Dẫu nhỏ, ở đời gì cũng quí.
Việc nước không dung kẻ dại khờ.
Đầy thuyền trăng sáng, tay cần trúc.
Ta phải về vui với Ngũ Hồ.


GIẢ CHÍ

Tác giả: Sinh năm 718, mất năm 772, người Lạc Dương (Hà Nam), thi đỗ Minh Kinh năm đầu Thiên Bảo Đường Huyền Tông, giữ chức Hiệu thư lang, năm 756 làm Thứ sử Nhữ Châu. Tác phẩm: trong "Toàn Đường thi" có một quyển của ông.

438. Đêm ở Ba Lăng, chia tay viên ngoại họ Vương

Lúc liễu ra bông, rời Lạc Dương.
Khi hoa mai nở - đến Tam Tương.
Tình đời trôi nổi như mây gió.
Ly biệt cái buồn vẫn vấn vương.

439. Ý xuân

Cỏ xanh, liễu biếc, sắc hoa hồng.
Hương thơm, chim hót, trời xanh trong.
Cái buồn không chịu bay theo gió,
Nên giữa xuân vui cứ não lòng.

440. Tiễn thị lang họ Lý đi Thường Châu

Gió mùa, tuyết lạnh, trời đầy mây.
Đường xa Ngô, Sở lúc chia tay.
Để mai có cái cho ta nhớ,
Tôi bác bây giờ uống thật say.

441. Mới đến Ba Lăng, cùng Lý Thập Nhị Bạch
rong thuyền chơi trên hồ Động Đình

Lá phong trên bến rụng như hoa.
Hồ thu nước gợn ánh dương tà.
Thuyền nhẹ, người vui đi, đi mãi.
Mượn ánh trăng vàng thăm Tương Nga.


LÝ ƯỚC

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

442. Xem lễ cầu mưa
 
Lúa chết, dâu khô, đồng nứt nẻ.
Dân lễ cầu mưa, khóc sụt sùi.
Trong khi lầu ngọc, người ca hát
Cứ sợ trời mưa làm mất vui.


SẦM THAM

Tác giả: Nhà thơ lớn đời Đường, không rõ năm sinh năm mất, người Nam Dương, nay là huyện Đặng, tỉnh Hà Nam, đỗ tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ 3 (774), từng làm Giám chầu thứ sử. Tác phẩm: Sầm Than tập.

443. Cảnh xuân, nhà trên núi

Vườn Lương cánh quạ giữa chiều tà.
Xơ xác buồn tênh mấy nóc nhà.
Trong sân không biết người đi hết,
Háo hức xuân về, cây trổ hoa.

444. Thơ đề trên cây liễu bên cầu
sông Phần, quận Bình Dương

Ngày xưa ta đã sống nơi này.
Nhiều năm lưu lạc lại về đây.
Không nhận ra ta, nhìn lạ lẫm,
Cây liễu sông Phần thật đến hay.

445. Bên bờ sông Vị, nhớ Tần Xuyên

Sông Vị chảy về đông,
Bao giờ tới châu Ung?
Xin gửi về quê cũ
Nước mắt lạnh đôi dòng.

446. Giấc mơ xuân

Đêm xuân gió lạnh thổi qua giường.
Nhớ người gặp gỡ giữa sông Tương.
Người đẹp trong mơ về chốc lát,
Nghìn dặm Giang Nam vẫn vấn vương.

447. Tiễn bạn về kinh đô

Một mình một ngựa hướng về tây.
Vung roi, người ngựa phóng như bay.
Tháng Chín, Giao Hà đưa tiễn bạn,
Đề thơ trong tuyết, lệ rơi đầy.

448. Tháng Chín hành quân, nhớ vườn cũ ở Trường An

Xóm nhỏ Đăng Cao, đã đến đây,
Chẳng ai có rượu uống kỳ say.
Chợt thương khóm cúc vườn quê cũ.
Giá chi nó nở chiến trường này.

449. Từ đài phong Mục Túc gửi về nhà

Bên đài Mục Túc đón mùa xuân.
Hồ Lư sông dữ, lệ đầy khăn.
Quê cũ vợ buồn, nơi chiến trận
Tướng sĩ buồn hơn đến vạn lần.

450. Giữa sa mạc, cảm tác

Xa nhà, rong ruổi ngựa về tây.
Hai lần trăng khuyết lại trăng đầy.
Không lửa, không người, sa mạc rộng,
Biết ngủ nơi nào qua đêm nay?

451. Từ cửa Ngọc Quan, gửi cho
quan chủ bạ ở Trường An

Muôn dặm Trường An ở phía đông,
Sao chẳng thương nhau viết mấy dòng.
Ngoảnh mặt về tây, buồn, đã thế
Mai lại hết năm, cảnh não lòng.

452. Nhớ vườn cũ ở Trường An

 Muốn leo núi, lại sợ
 Không có rượu dọc đường.
 Thương hàng cúc vườn cũ
 Vẫn nở cạnh chiến trường.

453. Gặp sứ giả vào kinh đô

Trông về quê cũ xa vời vợi,
Vạt áo run run, lệ ứa tràn.
Trên ngựa gặp nhau, không giấy bút,
Xin nhờ nhắn hộ: Vẫn bình an.

454. Viết trên sa mạc Hạ Diên, lúc mặt trời mọc

Mặt trời mọc trên cát.
Cát lại nuốt mặt trời.
Công danh là gì vậy
Mà đến đây, phí đời?

455. Lên gác Tổng Trì

Chạm mặt trời chót vót.
Nhìn ra từ tháp này,
Thấy muôn nhà, cây cối.
Vùng Năm Làng đầy mây.
Núi Tần bé và thấp.
Sông Vị giống sợi dây.
Giác ngộ được cái tĩnh,
Nguyện thờ Phật từ nay.

456. Họa bài thơ "Buối sớm vào chầu
cung Đại Minh"của xá nhân Giả Chí

Ngoài làng gà gáy, tiếng xôn xao.
Oanh hót trong cung, nắng phớt đào.
Chuông điểm đền vàng, muôn cửa mở.
Lọng ô thềm ngọc, sáng gươm đao.
Sương sớm chưa khô, tha thướt liễu.
Hoa lắng tai nghe tiếng nói chào.
Ai đó xướng thơ bên ao Phụng,
Các quan không biết họa thế nào.

457. Có việc ở tỉnh Tây Dịch

Tây Dịch, mây tan, trời lại sáng.
Mưa nhẹ Bắc Sơn, ướt áo chầu.
Tử Vi thành cổ hoa thơm ngát.
Thanh Tỏa xanh xanh liễu biếc màu.
Sáng xếp hàng uyên, tay cầm hốt.
Chiều cưỡi ngựa về, giống hệt nhau.
Thà về ở ẩn nơi rừng núi,
Hơn làm quan vụng, bạc hết đầu.

458. Tiễn anh Trương đi làm úy ở Nam Hải

Anh ngại đến Nam Hải
Vì mẹ già, nhà neo.
Ở đấy người Giao sống,
Lâu đài như ốc nghêu.
Hoa đầy núi Ngũ Lĩnh.
Núi Tam Sơn mưa nhiều.
Nơi ấy nhiều ngọc quí,
Nhưng đừng quên quê nghèo.


TRƯƠNG QUÂN

Chưa rõ tiểu sử tác giả

459. Cảnh chiều ở Nhạc Dương

Chim nhạn đã quay lại.
Hoàng hôn, quạ lượn vòng.
Nước long lanh ánh nắng.
Ráng mỏng nhuốm mặt sông.
Vườn đỏ ối lá thị.
Lau trắng xóa bãi sông.
Trường Sa luôn rét ẩm,
Mà áo chửa may xong.


LƯU PHƯƠNG BÌNH

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, là nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường, học giỏi nhưng không đi thi, suốt đời ở ẩn, người quê Hà Nam.

460. Khúc xuân oán

Bên song cửa sổ ánh dương tà.
Còn ướt trên bàn giọt lệ sa.
Không thấy người đâu, nhà vắng lạnh.
Các cửa ra vào kẹt xác hoa.

461. Trăng đêm

Nửa nhà trăng chiếu, sát lan can
Là sao Bắc Đẩu, ánh trăng tàn.
Hơi xuân vừa bén, đêm trời ấm.
Ngoài vườn tiếng dế đã râm ran.

462. Nỗi oán giận ngày xuân

Xế chiều, nắng nhạt lụi ngoài hiên.
Nhà vắng, lệ rơi, ngại đốt đèn.
Trống trải sân vườn, xuân đến muộn.
Hoa lê đầy đất, cổng cài then.


LƯU TRƯỜNG KHANH

Tác giả: Sinh năm 709, mất năm 786, tự Văn Phòng, người Hà Giang, nay thuộc tỉnh Hà Bắc; đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 21 (733) đời Đường Huyền Tông, từng giữ các chức quan nhỏ nhưng luôn gặp điều xấu, bị vu cáo, chết tại nhiệm sở; vì vậy mà thơ ông thường buồn. Tác phẩm: còn lưu được "Lưu Tùy chân tập " gồm hơn 400 bài.

463. Ngủ ở núi Phù Dung, gặp tuyết

Chiều đông, núi lạnh, hoàng hôn nhòa.
Gió thổi, nhà tranh, sân đầy hoa.
Sau phên chó sủa, khuya, bên cạnh
Có ai mang tuyết bước vào nhà.

464. Tức cảnh, tặng Lý Mục

Thuyền con một chấm cuối chân trời,
Đi mãi mà rồi chẳng tới nơi.
Những muốn mở phên mời khách tới.
Ngại nghèo, nhà dột, lá vàng rơi.

465. Lên núi, ghé thăm nhà họ Trịnh

Hoa rụng, cỏ thơm, nhà quạnh hiu.
Vắng người, vườn mận tiếng chim kêu.
Chó sủa đâu đây. Sao đóng cửa
Để phí bao nhiêu cảnh núi đèo?

466. Tiễn Linh Triệt

Chùa Trúc Lâm xa xa.
Tiếng chuông chiều văng vẳng.
Nón sen đong nắng tà.
Một mình, đường núi vắng.

467. Nghe chơi đàn cầm

Như gió thổi rừng cây,
Nhạc vang trên bảy dây.
Điệu cũ tuy ưa thích,
Ít ai đàn thời nay.

468. Ngày thu, lên chùa trên đài ông Ngô, trông ra xa

Chạnh lòng nhớ quê cũ..
Đài xưa cỏ mọc dày.
Chùa vắng người qua lại.
Xa vời nước và mây.
Nắng chiều vương bờ lũy.
Tiếng khánh lạnh rừng cây.
Chuyện Nam Triều đã cạn.
Nước Trường Giang vẫn đầy.

469. Đi từ Hạ Khẩu đến bãi Anh Vũ, trông sang
Nhạc Dương, gửi cho ông Nguyên Trung Thừa

Bãi sông không sóng cũng không sương.
Khách Sở ngồi buồn, dạ vấn vương.
Hán Khẩu, nắng chiều nâng cánh nhạn.
Động Đình, gió thổi, thoảng mùi hương.
Thành ven vách núi, đêm thuyền đậu.
Một cây đơn lẻ đứng bên đường.
Giả Nghị dâng thư mong giúp Hán,
Phải xuống Trường Sa, nghĩ thật thương.


470. Vô đề

Đường dài hút heo, sông tạnh.
Trời xế, thuyền không cột dây.
Người đi trên sông xuôi ngược.
Ngoài đồng cỏ vắng chim bay.
Khe sâu trăng soi lạnh lẽo.
Lờ lững trên đầu mây bay.
Phải đến Trường Sa, thật khổ.
Bên sông, cỏ dại mọc dày.

471. Tìm đạo sĩ Thường ở Nam Khê

Ai qua đây, đường nhỏ
Còn in dấu chân người.
Bãi nông mây trắng phủ.
Ngoài thềm cỏ tốt tươi.
Qua màn mưa ngắm núi.
Theo con suối dạo chơi.
Ý thiền và cảnh đẹp
Gặp nhau, chẳng nên lời.

472. Đi ngang qua mộ Phiếu Mẫu 1)

Chịu ơn từng bát gạo,
Nên cho xây mộ này.
Mộ xưa lẫn trong cỏ.
Triều trước như mây bay.
Người qua đường hương khói.
Đỗ quyên kêu trên cây.
Bốn xung quanh xuân biếc.
Vương Tôn từng tới đây.

1. Mộ người đàn bà giặt vải được Hàn Tín xây để nhớ ơn bà cưu mang mình thuở hàn vi, mộ mẹ Hàn Tín đối diện, cách thành Hoài An bốn mươi dặm về phía tây.

473. Thơ làm lúc năm mới

Xa nhà, xuân đến sớm.
Năm mới buồn ủ ê.
Già rồi còn ở đậu.
Chua xót nỗi nhớ quê.
Bạn với bầy vượn núi.
Mây khói, liễu bên khe.
Chẳng khác gì Giả Nghị.
Mấy năm nữa được về?

474. Tiễn Vương Mười Một đi chơi miền nam

Nhìn con thuyền rời bến,
Lệ đầm đìa, vẫy tay.
Núi cũng nhìn theo bác.
Chim lưu luyến lượn bay.
Vào xuân năm hồ lớn.
Ra đi cánh buồm gầy.
Rau tần trắng trên bãi
Vì bác, cũng buồn lây.

475. Đi qua quê của Trương Minh Phủ,
trước giữ chức An Nghi

Có ông già tóc bạc,
Nhà ngoài góc thành đông.
Trả ấn về ở ẩn,
Năm cây liễu ông trồng.
Chiều ra bến câu cá.
Sáng cày cấy ngoài đồng.
Thích ôm đàn đi dạo.
Nhưng ông có vui không?

476. Ở Giang Châu, tiễn hai quan viên
ngoại là ông Sáu Tiết và ông Tám Liễu

Từng trải sự đời, lo ứng biến.
Cũng vì cơm áo, phải đi xa.
Hà Nam lá rụng, nhiều núi Sở.
Trường Giang trăng sáng, nhạn bay qua.
Tạm vui ngoài chốn Thương Châu ấy.
Ngắm nhìn, tóc đã điểm sương pha.
Hai bác quan tâm, lo bảo trọng.
Dẫu sao ta đã lớp người già.

477. Qua nhà Giả Nghị ở Trường Sa

Ba năm chịu cảnh sống lưu đày,
Để niềm thương tiếc tới hôm nay.
Thơ thẩn mình ta tìm dấu vết.
Rừng lạnh, gió thu, đã xế ngày.
Văn Đế anh minh mà bạc nghĩa.
Sông Tương hờ hững chảy qua đây.
Quang cảnh xung quanh buồn, xơ xác.
Thương ông sao phải tới nơi này.


TÔN ĐỊCH

Tác giả: Không rõ năm sinh, mất năm 761, người Bác Châu, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, làm quan đến chức thái tử thiêm sự.

478. Lầu Vân Môn

Chùa nằm sát vách đá.
Mây khói chốn thâm tu.
Đèn treo, đêm phủ núi.
Màn vén, hồ vào thu.
Mành lụa vẽ sao sáng.
Vách đầy hình chim cu.
Ngỡ mình nơi thượng giới,
Đang cưỡi mây chu du.


LÝ ĐOAN

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tên chữ là Chính Kỷ, tự gọi mình là Hành Ngạc u nhân, người Triệu Châu, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, đỗ tiến sĩ năm Đại lịch thứ 5 (770). Cuối đời từ quan về ở ẩn tại Hành Sơn. Tác phẩm: "Lý Đoan thi tập" hiện còn hơn 180 bài.

479. Vái trăng mới

Mở rèm, thấy trăng mới,
Liền quỳ vái trước sân.
Không ai nghe lời khấn.
Gió thổi bay dải quần.

480. Đàn tranh

Người đẹp ngồi bên cửa
Chơi đàn như mọi ngày.
Muốn Chu lang 1) để ý
Cố tình gẩy nhầm dây.

(1) Tøc Chu Du, t­íng nhµ Ng« thêi Tam Quèc, næi tiÕng lµ ng­êi sµnh ©m nh¹c. Mét h«m Lç Tóc mêi ®Õn ch¬i, cho mét c« g¸i giái ®µn ch¬i ®µn tranh cho Du nghe. Gi÷ thÓ diÖn, Du kh«ng tiÖn nh×n ngang nh×n ngöa nªn suèt buæi ngåi yªn. C« g¸i cè t×nh g¶y sai d©y ®µn, xem Du cã biÕt kh«ng.

481. Dạo chơi bên suôi, gặp mưa, tặng Liễu Trung Dung

Đêm buông, núi mờ tối.
Mưa hắt hiu, mịt mờ.
Cùng nghe chung vượn hót,
Mà hai người hai bờ.


LÝ GIA HỰU

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

482. Lầu trúc

Chức quan nho nhỏ, diễu quan to.
Lầu trúc dựng xong, chén thật no.
Gió nam đang thổi, không cần quạt,
Ngủ một giấc say trước lũ cò.


TIỀN KHỞI

Tác giả: Sinh năm 722, mất năm 780, tên chữ là Trọng Vân, người Ngô Hưng, nay là tỉnh Chiết Giang, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Khảo công Lang trung. Tác phẩm: "Tiền Trọng Văn tập".

483. Giang hồ gặp nhau

Giang hồ nước Yên, Triệu
Gặp nhau đất Hán này.
Nỗi lòng chưa nói hết,
Nắng đã tàn phía tây.

484. Ngày thu

Ngoài hiên, chiều bóng xế.
Buồn, không ai giãi bày.
Đường vắng người, hiu quạnh.
Gió thổi, lúa lung lay.

485. Chim nhạn về

Tiêu Tương sông biếc, cỏ xanh đê.
Chim nhạn vì sao bỗng kéo về.
Có phải có người đàn dưới nguyệt,
Tiếng đàn ai oán, nhạn về nghe?

486. Viết khi đi thuyền trên sông

Ngủ say trong thuyền lá.
Không giật mình, sóng êm.
Mặc trên bờ lau sậy
Thao thức hoài suốt đêm.

487. Chiều xuân, về lều tranh núi cũ

Tân Di xuân hết, chẳng còn hoa.
Không cả cành mai trước cổng nhà.
Thương thương khóm trúc kề song cửa,
Luôn vẫn xanh buồn, đứng đợi ta.

488. Đề ở nhà họ Thôi, ẩn dật trên núi

Đường hoa thược dược phủ rêu dày.
Kề bên cửa sổ núi và cây.
Dưới hoa, ông chủ nằm say khướt,
Mơ thành con bướm nhởn nhơ bay.

489. Đi thuyền trên sông, ngắm núi Khuông Lư

Gần mà không lên được
Vì mưa lớn, gió nhiều.
Có thể trên chùa ấy
Còn sư đời Lục Triều.

490. Tiễn nhà sư về Nhật Bản

Có dịp đến thượng quốc,
Không phải đến trong mơ.
Nước hòa trời xanh biếc.
Thuyền đạo trôi hững hờ.
Cá rồng nghe kinh Phật.
Trăng thiền, nước ngẩn ngơ.
Vời vợi trong đôi mắt
Lung linh ngọn đèn mờ.

 

491. Trong phòng văn ở Cốc Khẩu,
gửi Dương Bổ Khuyết

Bờ dậu ráng mây phủ.
Khe cỏ mọc bời bời.
Trúc và núi thật đẹp.
Xế chiều, mưa ngừng rơi.
Hoa rụng như chậm lại.
Mấy cánh cò chơi vơi.
Sai trẻ quét sân, ngõ -
Bác hẹn chiều đến chơi.


TRƯƠNG KẾ

Tác giả: Sinh và mất khoảng trước sau năm 766, tên chữ là Từ Tốn, người Nhương Châu, nay là Hồ Nam, đỗ tiến sĩ thời Thiên Bảo, làm quan đến chức Từ Bộ viên ngoại lang. Rất nổi tiếng với bài Phong Kiều dạ bạc.

492. Đêm đậu thuyền ở bến Phong Kiều 1)

Sương bạc, trăng tà, phong đứng yên,
Xóm chài lấp lóe lửa hai bên.
Đêm vắng, tiếng chuông chùa Núi Lạnh
Từ phía Cô Tô vọng tới thuyền.

(1) ë phÝa t©y thµnh C« T« (T« Ch©u), tØnh Giang T«.

493. Lên lầu

Dân bị quan bắt lính.
Ruộng hóa cỏ mọc dày.
Lên lầu nhìn: Đang Tết,
Ít nhà có khói bay.


UNG ĐÀO

Tác giả: Chưa rõ tiểu sử.

494. Thơ đề “Cầu đứt tình”

Chỉ có tình yêu bền chặt mãi.
Sao ai gọi thế chiếc cầu nay.
Tốt hơn xin đổi thành “bẻ liễu” 1),
Để tình còn đó, chỉ chia tay.

1. Đời xưa người Trung Quốc có tục bẽ cành liễu khi chia tay.


ĐÁI THÚC LUÂN

Tác giả: Sinh năm 732, mất năm 789, người Thuận Châu, nay thuộc tỉnh Giang Tô, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Phủ Châu thứ sử, sau bỏ quan làm đạo sĩ. Tác phẩm: " Đái Thúc Luân tập".

495. Miếu Tam Lư

Nguyên, Tương cứ chảy mãi.
Khuất Nguyên buồn, đau lòng.
Hiu hắt rừng cây lạnh.
Chiều, gió thổi trên sông,

496. Mơ về Ngư Dương

Đầu thôn liễu mơn mởn.
Bãi dâu xanh bên đường.
Mang giỏ, quên hái lá.
Đêm trước mơ Ngư Dương.

497. Bạn cũ quê Giang Nam
tình cờ hội họp ở quán khách

Vào thu, trăng lại sáng.
Bóng đêm phủ mờ mờ.
Lại gặp nhau như trước.
Cứ ngỡ gặp trong mơ.
Chim giật mình, gió thổi.
Dế giun kêu thờ ơ.
Say sưa nơi đất khách,
Sợ chuông báo hết giờ.

498. Đêm giao thừa, trọ ở trạm Thạch Đầu

Một mình trong quán trọ.
Bạn với chiếc đèn dầu.
Đêm cuối năm sắp hết,
Xa nhà kể đã lâu.
Buồn suốt đời phiêu bạt.
Toàn nghĩ chuyện buồn rầu.
Mặt buồn và tóc bạc,
Chờ xuân đến hôm sau.


LƯ LUÂN

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Doãn Ngôn, người đất Bồ, phủ Hà Trung, nay thuộc tỉnh Sơn Tây. Khoảng thời gian từ 766 đến 778 nhiều lần thi không đỗ, sau được tiến làm chức úy huyện Văn Khánh. Tác phẩm có Thi Tập gồm mười quyển.

499. Tiễn Lý Đoan

Ải cũ toàn cỏ úa.
Cảnh ly biệt buồn sao.
Đường ra - đầy mây lạnh.
Chiều tuyết rơi - đường vào.
Bác xa quê từ nhỏ,
Lắm hoạn nạn, lao đao.
Lặng nhìn mà gạt lệ.
Biết hẹn nhau nơi nào?

500. Chiều đỗ thuyền ở Ngạc Châu

Mây tạnh, mờ mờ thấy Hán Dương,
Thuyền đi còn mất một ngày đường.
Nước lặng cả ngày, khách muốn ngủ.
Suốt đêm cánh lái đợi triều cường.
Ba Tương, tóc bạc, mùa thu tới.
Chạnh lòng, trăng sáng nhớ quê hương.
Buồn nghe trống trận vang sông nước.
Quá đủ sinh linh ngã chiến trường.

501. Chiều xuân ở Trường An

Gió thổi mưa qua núi.
Đất trời thắm sắc xuân.
Sông ít người qua lại.
Đồng xa nối đồng gần.
Trên trời, mảnh trăng khuyết.
Bao giờ gặp người thân?
Đời nhà nho khổ thế -
Phơi mặt nơi ải Tần.


THÔI HỘ

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tự Ân Công, người Bắc Lăng, nay là huyện Định, tỉnh Trực Lệ. Ông lận đận trong thi cử, khi đỗ tiến sĩ tuổi đã cao, thuộc thế hệ sau Đỗ Phủ, trước Bạch Cư Dị. Ông làm quan đến chức Tiết độ sứ Lĩnh Nam. Bài thơ dưới đây rất được người đương thời ưu thích.

502. Thơ đề chỗ gặp gỡ ngày trước

Năm ngoái ngày này, cũng nơi này,
Mặt hoa, mặt người đỏ hây hây.
Người cũ đi đâu giờ chẳng thấy,
Để lại một mình hoa ở đây.


HÀN HỦ

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, đỗ tiễn sĩ năm 754, tự Quận Bình, người Nam Dương (Hà Nam). Tác phẩm có "Thi tập", gồm 5 quyển.

503. Tiết hàn thực

Khắp thành đâu cũng thấy hoa bay.
Hàn thực, gió đông uốn liễu gầy.
Vua Hán trong cung truyền thắp nến.
Dinh thự Ngũ Hầu nhiều khói bay.

504. Thơ tặng nhân tiếp Trình Cận

Trải chiếu tre hóng gió.
Trên thành trăng rất cao.
Đêm, nhà nhà giã gạo.
Nhạn bay giữa trời sao.
Thu muộn, định ngủ sớm,
Quên cuộc đời lao đao.
Mải đọc thơ, không biết
Quạ kêu sớm lúc nào.


HẠO NHIÊN

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất. Hạo Nhiên là pháp danh, ông họ Tạ, tên Trú, vào lúc có tuổi bỏ đi tu, rất được Vi Ứng Vật kính trọng

505. Tìm Lục Hồng Tiệm, không gặp

Đường quê cây rậm rạp.
Nhà ở mé thành xa.
Cúc mới trồng sát dậu,
Thu rét chửa ra hoa.
Gõ cửa, chó không sủa.
Hỏi nhà bên, người ta
Bảo: Ông lão vào núi,
Chiều tối mới về nhà.


TƯ KHÔNG THỰ

Tác giả: Sinh năm 720, mất 790, tự Văn Minh, người Quảng Bình, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, đỗ tiến sĩ và từng giữ nhiều chức quan khác nhau. Tác phẩm: "Tư Không Văn Minh thi tập" gồm hơn 70 bài còn giữ được.

506. Chuyện ở thôn ven sông

Vội về, quên níu cột thuyền câu.
Thôn chài trăng xế, ngủ từ lâu.
Đêm, gió thổi thuyền trôi đâu đấy.
Chắc cũng gần thôi, quanh bãi dâu.

507. Từ biệt Lư Tần Khanh

Biết anh đang có hẹn,
Không dễ dàng biệt ly.
Rượu ngon và gió ngược
Không giữ được anh đi.

508. Cùng ngắm hoa và uống rượu, say với Vệ Tượng

Mái tóc cả hai cùng điểm bạc.
Quê người, cùng ngắm một cành hoa.
Sáng nay được dịp say cùng bác,
Quên mình đang ở tận Trường Sa.

509. Giặc yên, tiễn người về bắc

Loạn, xuống nam lánh nạn.
Yên, về bắc một mình.
Quê người tóc bạc trắng.
Về nhà thấy núi xanh.
Lũy cũ trăng non chiếu.
Ải xưa sao lung linh.
Chim lạnh và cỏ úa,
Như mặt người, buồn tênh.

510. Từ giã Hàn Thân ở Vân Dương

Chia tay nơi sông biển.
Cách nhau mấy trời mây.
Giờ gặp nhau bất chợt,
Buồn vui muốn giải bày.
Ngọn đèn soi mưa lạnh.
Bụi trúc khói mù bay.
Sáng hôm sau gạt lệ,
Lại nâng chén chia tay.

511. Mừng được người em
bên ngoại là Lư Luân đến thăm

Không láng giềng, đêm vắng.
Lá vàng trong mưa ngâu.
Nhà vốn nghèo, trống trải.
Đèn mờ, người bạc đầu.
Mừng hôm nay gặp chú.
Nhà vắng khách đã lâu.
Ở đời cần giao tiếp,
Huống bà con với nhau.


LÝ HẠ

Tác giả: Sinh năm 789, mất 816, người Phúc Xương, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông là tôn thất nhà Đường, không thi tiến sĩ và chỉ được làm một chức quan nhỏ. Ông mất sớm, để lại ba quyển thơ.

512. Măng non ở vườn bắc Xương Cốc

Viết thơ, tre nhỏ chẻ từng thanh.
Phấn xuân, hương nhị, mực long lanh.
Ai thấy cái buồn sau chữ viết?
Khói nhẹ, sương treo trên lá cành.


VƯƠNG KIẾN

Tác giả: Sinh năm 751, mất năm 835, tên chữ là Trọng Sơ, người Khoản Châu, nay là Hứa Xương, tỉnh Hà Nam, đỗ tiến sĩ, làm quan đến Tư mã Thiểm Châu. Tác phẩm: "Vương Từ Mã tập".

513. Lời nàng dâu mới

Sau cưới được ba ngày,
Vào bếp nấu canh này.
Nhờ em chồng nếm trước.
Chiều mẹ chồng sao đây?

514. Cung cũ

Tiêu điều cung cũ bám rêu phong.
Hoa rụng đầy sân, trắng lẫn hồng.
Mấy bà cung nữ xưa đầu bạc,
Ngồi buồn kể chuyện đức Huyền Tông.

515. Vịnh cung Hoa Thanh

Đi hết Giang Nam mấy chục dặm,
Trăng tàn, gần sáng đến Hoa Thanh.
Gió tây trên gác Triều Nguyên thổi,
Hút ẩm Tương Dương, mưa xuống thành.

516. Đêm rằm ngắm trăng

Sân sau, con quạ đậu trên cây.
Sương lạnh long lanh bụi quế gầy.
Mọi người vui ngắm vầng trăng sáng.
Nhà nào thu đến, buồn đêm nay?

517. Đá vọng phu

Đứng chờ chồng mỏi mắt
Bên sông, trên núi cao.
Lặng lẽ biến thành đá.
Không ngoảnh lại lần nào.

518. Cuối năm, tự thương mình

Mọi người muốn trẻ, có ai không?
Thời gian làm tóc trắng như bông.
Trăm cách trốn già, già cứ đến.
Muốn vui mà cứ phải đau lòng.
Nhà chưa dựng được, đang chờ dựng.
Thông dẫu khó trồng, vẫn phải trồng.
Nâng chén rượu này, xin một việc:
Thêm hai chục lần được tiễn đông.


VI ỨNG VẬT

Tác giả: Sinh năm 736, mất năm 830, người Kinh Triệu, Tràng An, nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, từng làm Thứ sử Tô Châu nên cũng gọi là Vi Tô Châu, phong cách thơ gần với lối sơn thủy của Vương Duy.

519. Nghe sáo trên sông, tiễn quan thị ngự họ Lục

Nâng chén này tiễn bác.
Văng vẳng sáo trên sông.
Buồn, trong đêm nằm ngủ.
Tiếng sáo vọng tới phòng.

520. Khe phía tây ở Trừ Châu

Âm thầm cỏ mọc sát bờ sông.
Oanh vàng ríu rít giữa cành phong.
Sắp tối, triều xuân, đò vắng chủ,
Tự ý quay ngang, đứng giữa dòng.

521. Tiết hàn thực, gửi em ở Kinh Sư

Cấm lửa, trời mưa, phòng lạnh tanh.
Lắng nghe chim yến hót trên cành.
Nhớ em, uống rượu, nhìn hoa nở.
Đỗ Lăng hàn thực cỏ xanh xanh

522. Trả lời Lý Cán

Vừa đọc Kinh Dịch xong.
Rỗi, ngắm chim trên sông.
Nghe Sở nhiều hào kiệt,
Người nào chơi với ông?

523. Đêm thu, gửi Viên ngoại họ Khâu

Đêm thu, dạo một mình.
Ngâm thơ, thường nhớ anh.
Trái thông rơi trên núi.
Ai nỡ ngủ cho đành?

524. Ở Phù Đắc, mưa chiều, đưa tiễn Lý Tào

Mưa phùn ở Đông Sở.
Chuông Kiến Nghiệp, chiều tà.
Man mác thuyền chở nặng.
Chầm chậm nhạn bay qua.
Cửa sông không thấy đáy.
Mờ mờ cây xa xa.
Chia tay, tình lai láng,
Cánh tay áo lệ nhòa.

525. Gửi đạo sĩ trong núi Toàn Tiêu

Sáng, phòng lạnh, chợt nhớ
Có người trên núi cao
Nhặt củi gai dưới suối
Về đun trà thanh tao.
Muốn giúp ông đỡ lạnh,
Tặng một vò rượu đào.
Nhưng núi đầy lá rụng,
Biết tìm ông nơi nào?

526. Đêm đỗ thuyền ở huyện Vu Di

Bến đò cạnh ngõ trạm.
Thuyền đậu ở Phố Hoài.
Gió thổi, nước cuộn sóng.
Tia nắng chiếu xiên khoai.
Người về nơi xóm núi.
Nhạn xuống ngủ bãi ngoài.
Nhớ ải Tần, đêm vắng.
Nghe tiếng chuông ngân dài.

527. Bắt đầu ra đi ở Dương Tử,
gửi cho ông hiệu thư Nguyên Đại

Buồn, chia tay ly biệt,
Người đi vào khói sương,
Người bùi ngùi quay mũi
Cho thuyền về Lạc Dương.
Biết bao giờ gặp lại,
Phiêu dạt chốn dặm trường?
Đời, như thuyền trên sóng,
Trôi mãi theo lẽ thường.

528. Gặp Phùng Trứ ở Trường An

Mưa Ba Lăng ướt áo.
Khách từ xa tới đây.
"Chắc bác có công chuyện?"
"Vâng, mua rìu đốn cây".
Xuân đến rồi, hoa nở,
Én non chấp chới bay.
Mai tóc thêm sợi bạc.
Chia tay bác hôm nay.

529. Bắt chước Đào Bành Trạch

Sương lạnh, cây cỏ héo,
Chỉ hoa cúc tươi màu.
Sự đời vốn vẫn vậy,
Nóng hay lạnh mặc dầu.
Hoa thơm ngâm rượu đục,
Tối ngồi uống với nhau.
Mái nhà tranh, vò rượu -
Đời có cần nhiều đâu.

530. Tiễn Vương chủ ở Phần Thành

Làm quan lúc còn trẻ,
Từng đi tới đất Phần.
Nơi cỏ thơm xanh tốt,
Nhiều bạn cũ, người thân.
Cây trong cung khói phủ.
Thành chìm trong mưa xuân.
Chia tay trên cầu nhỏ.
Gió thổi, sóng lăn tăn.

531. Trên sông Hoài, mừng gặp bạn cũ ở Lương Xuyên

Lưu lạc ở Giang Hán.
Gặp nhau trong tiệc say.
Mười năm nước đã chảy,
Cũng chừng ấy mây bay.
Mừng vui gặp bạn cũ.
Tóc đã bạc thế này.
Sao bác chưa về nhỉ?
Sông Hoài chảy đêm ngày.

532. Gửi Lý Đàm và Nguyên Tích

Năm ngoái trong vườn, tiễn các anh.
Hôm nay hoa lại nở trên cành.
Việc đời rối rắm, không lường được.
Xuân mới mà buồn, ngủ một mình.
Đau ốm, nhớ quê, về chẳng được.
Dân nghèo, bổng lộc hưởng không đành.
Các anh bảo đến, chờ, không đến.
Mấy bận lầu tây trăng khuyết vành.

533. Cánh đồng phía đông
  (Lược dịch)

Việc quan luôn bận bịu.
Nay ra ngoài thành đông.
Khóm liễu chao theo gió.
Núi xanh làm vợi lòng.
Trên núi, nghỉ tùy thích.
Ven khe, đi lòng vòng.
Mùa xuân, chim ríu rít.
Mưa nhỏ rơi trên đồng.

534. Ở ẩn
(Lược dịch)

Ở đời phải vật lộn.
Sang hèn do chức quan.
Riêng ta không ràng buộc
Nên có được cái nhàn.
Xuân, núi rừng quang đãng.
Chim chóc bay từng đàn.
Dạo cùng người đốn củi.
Cùng đạo sĩ - luận bàn.

535. Từ Củng Lạc đi thuyền vào sông Hoàng Hà,
gửi các bạn cùng làm quan ở phủ và huyện

Trời nước đằng đông biếc một màu.
Đằng tây núi lạnh, nước sông sâu.
Vời vợi cây xanh nhìn hút mắt.
Nắng quái xiên khoai những gợi sầu.
Bên kia bờ suối làng heo hắt.
Sau mưa, chấp chới cánh chim âu.
Nhắn bạn làm quan nơi huyện, phủ:
Lòng tôi không buộc, giống thuyền câu.


LIỄU TÔNG NGUYÊN

Tác giả: Sinh năm 773, mất năm 819, tự Tử Hậu, người Kinh Triệu Vạn Niên, nay là Tây An, Thiểm Tây, đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), năm thứ 14 (798) lại đỗ khoa Bác học Hoằng tử, được giữ chức giám sát Ngự sử, sau bị thất sủng. Tác phẩm: "Liễu Hà Đông tập".

536. Tuyết trên sông

Không bóng chim trong núi.
Không dấu chân trên đường.
Cô đơn, thuyền ông lão
Rong câu, câu tuyết sương.

537. Cùng đi xem núi với nhà sư Hạo Sơ,
gửi bạn bè thân thiết ở Kinh Đô

Thu đến không đâu, buồn vấn vương.
Bốn bề núi đứng tựa gươm giương.
Thân này giá biến thành muôn vạn
Để từ đỉnh núi ngóng quê hương.

538. Ông chài

Uống nước sông Tương, đun củi Sở.
Giường là phiến đá, gối - cành cây.
Một tiếng hò chèo vang sông núi.
Không gặp một ai suốt cả ngày.
Lặng lẽ bầu trời in đáy nước.
Hững hờ mây núi đuổi nhau bay.

539. Ở miền khe núi

Bị chức quan trói buộc,
May được đầy đến đây,
Xứ Nam di hẻo lánh,
Thế mà vui cả ngày.
Tối chèo thuyền khe núi.
Sáng dẫy cỏ, đi cày.
Toàn người không quen biết.
Hứng, hát vang rừng cây.

540. Sáng sớm đọc sách thiền ở viện Siêu Sư
(Lược dịch)

Súc miệng bằng nước lạnh.
Phủi bụi khỏi áo quần.
Lời người xưa sâu sắc,
Giúp rèn luyện tinh thần.
Nhà đạo sĩ vắng lặng.
Rêu, tre mọc đầy sân.
Vui, tự đọc, tự biết.
Nghe và nói không cần


MẠNH GIAO

Tác giả: Sinh năm 751, mất năm  814, tên chữ là Trọng Sở, người Hồ Châu, nay là tỉnh Chiết Giang, năm mươi tuổi mới đỗ tiến sĩ, làm quan đến Phiên Dương uý. Tác phẩm: "Mạnh Đông dã tập".

541. Khúc ngâm gửi theo thư

Mực hòa cùng nước mắt,
Viết thư gửi người thân.
Thư đi, hồn cũng mất,
Chỉ trơ lại xác trần.

542. Cổ ly biệt

Chàng lại đi đâu nữa?
Biệt ly, níu áo chàng.
Không giận vì về muộn,
Chỉ đừng tới Lâm Ngang.

543. Khúc ngâm người con đi chơi xa

Con đi xa, bà mẹ
Đưa bàn tay tảo tần
Từng đường kim, sợi chỉ,
Khâu áo rất ân cần.
Ai bảo lòng tấc cỏ
Đền đáp được mùa xuân?

544. Bài hát người liệt nữ

Chờ nhau đến già rũ,
Phượng đậu cây ngô đồng.
Uyên ương chết từng cặp,
Vợ hiền chết theo chồng.
Lòng em như giếng nước,
Thề bao giờ cũng trong!

545. Bài từ người đàn bà dệt vải

Chàng là trai đồng ruộng.
Phận thiếp gái nhà quê.
Kể từ ngày xuất giá.
Dệt vải chọn làm nghề.
Suốt ngày bên khung cửi,
Dệt từ sáng đến khuya,
Mà vải mình người mặc,
Mình áo rách, người chê.


HÀN DŨ

Tác giả: Sinh năm 768, mất năm 824, tên chữ là Thoái Chi, người Nam Dương, chống lại chủ trương của Phật giáo, khởi xướng phong trào tân văn, rất có ảnh hưởng đến đương thời và sau này.

546. Đầu xuân, mưa nhỏ

Như sữa, mưa rơi ướt lá cành.
Vạt cỏ xanh mà không phải xanh.
Đây suốt năm xuân, gì cũng đẹp,
Đẹp hơn khói liễu chốn đô thành.

547. Xuân muộn

Xuân chẳng dừng lâu chờ cỏ cây
Khoe sắc trăm hoa, ngày tiếp ngày.
Hoa dương đang rụng, không tình ý,
Chỉ biết bay bay như tuyết bay.

548. Bị giáng chức đổi đi xa,
đến Ải Nam, dặn lại cháu là Tương

Buổi sáng can vua, chiều có lệnh
Đày xuống Châu Triều, chịu án oan.
Chỉ muốn vì dân, trừ gian tặc,
Đâu vì tuổi tác, muốn cầu an.
Mây che Tần Lĩnh, nhà không thấy.
Tuyết phủ chặn đường tới Lâm Quan.
Cháu từ xa đến, sau hãy nhớ
Xương ta tìm nhặt bãi sông Hàn.

549. Trong tiệc rượu, dâng
Lý tướng công ở Tương Dương

Phụng sự nhà vua, lo việc công,
Nhưng tôi là chuột, ông là rồng.
Ấm bụng, không từ ly rượu yến.
Đau lòng tin vắng, mỏi mắt trông.
Đuốc bạc chưa tàn, trời đã rạng.
Chén vàng say dở, xuân thêm nồng.
Được biết nay mai ông nhậm chức,
Xin cho chức nhỏ, kình nhờ ông.


TRƯƠNG TỊCH

Tác giả: Sinh năm 768, mất năm 839, tự Văn Xương, người Ngô Quận, nay là Tô Châu, Giang Tô; đỗ tiến sĩ năm 798, làm quan đến chức Quốc Tử Tư nghiệp. Tác phẩm: "Trương Tư Mã tập".

550. Gửi nhà sư ở Tây Phong

Suối chảy dưới rừng thông.
Đêm thanh mà khó ngủ.
Trăng chếch đỉnh Tây Phong.
Nhớ mái nhà tranh cũ.

551. Ý nghĩ mùa thu

Lạc Dương gió thổi, héo tàn hoa.
Viết thư, lo lắng hỏi tin nhà.
Vội vã, chỉ  e chưa nói hết,
Người sắp lên đường, còn mở ra.

552. Khúc hát Thành Đô

Cẩm Giang khói nước phía đằng tây.
Mới mưa, vải chín đỏ trên cây.
Dọc hai bên cầu nhiều quán rượu.
Khách chọn quán nào khi tới đây?

553. Tặng nhà sư Nhật Nam ở trong núi

Trước cổng hai ngọn núi.
Chỉ nhìn núi mà già.
Sách kinh trên lá chuối.
Áo treo bên bụi hoa.
Đào đất xây thành giếng.
Vào rừng trồng dâu gia.
Khách Nam Hải thường hỏi:
Nhà của bác đấy à?

554. Thương bạn cũ mất tích ở đất Phiên

Anh đi lính năm ngoái.
Giờ sống chết không hay.
Nghe nghìn, vạn người chết.
Tin tức vắng lâu ngày.
Ngựa anh không trở lại.
Cờ trướng không có đây.
Muốn tế anh, chỉ sợ
Anh còn sống lúc này.

555. Gửi sứ quân họ Lưu ở Hòa Châu

Xa nhau lần ấy đã bao ngày.
Tôi đang ở quận, vẫn thường say.
Sa Khẩu, qua đê đưa tiễn khách.
Thùy Tâm, ngồi ngắm cánh chim bay.
Mặt sông buổi sáng mù sương khói.
Sườn núi buổi chiều mưa lây rây.
Tình thơ đến bác xa vời vợi,
Có hứng, ngâm thơ nào ai hay.


TRƯƠNG HỰU

Tác giả: Năm sinh không rõ, mất 853, tự Thừa Cát, người Nam Dương, không ra làm quan mà sống ẩn dật.

556. Đài Tập Linh 1)

Mặt trời buổi sáng đã nhô cao.
Long lanh sương lạnh cánh hồng đào.
Thượng Hoàng đêm trước ban phù lục 2).
Thái Chân 3) cười mỉm, vén rèm cao.

1. Còn nền cũ bên núi Ly Sơn, huyện Lâm Đồng, tỉnh Thiểm Tây, do vua Đường Minh Hoàng lập để thờ Lão Tử.
2. Bùa vẽ trên giấy trắng.
3. Tức Dương Quí Phi.

557. Khúc hát “Hà Mãn Tử” 1)

Quê cũ xa nghìn dặm.
Hai mươi năm trong cung.
Nghe bài “Hà Mãn Tử”.
Nước mắt chảy hai dòng.

558. Thơ đề bến Kim Lăng

Bên bến Kim Lăng, một mái lầu.
Đến nghỉ, tự dưng thấy buồn rầu.
Sông đêm triều rút, trăng nhàn nhạt.
Đèn mờ run rẩy phía Qua Châu.


CHU KHÁNH DƯ

Tác giả: Sinh năm 797, không rõ mất năm nào, người Việt Châu, nay thuộc tỉnh Chiết Giang; đỗ tiến sĩ năm 826, nổi tiếng thơ hay, được Trương Tịch rất đề cao.

559. Bài thơ cung nữ

Cổng đóng, hoa đào nở lặng yên.
Buồn buồn người đẹp đứng bên hiên.
Chuyện kín trong cung không dám kể.
Ngại ngùng con vẹt sát kề bên.

560. Hỏi chồng

Đêm động phòng, sáng dậy
Để lạy cha mẹ chồng.
Hỏi chồng lúc trang điểm:
Mày em tô được không?


TIẾT ĐÀO

Tác giả: Nữ thi sĩ đời đường, sinh năm 768, mất năm 831, tự Hồng Độ, người Trường An, thân phụ bà làm quan ở đất Thục nên bà lưu ngụ ở đó. Bà biết làm thơ từ thuở lên tám, giao du nhiều với các nhà thơ nổi tiếng cùng thời như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tich, Đỗ Mục, vân vân.

561. Bài từ ngóng xuân

Không cùng ngắm hoa nở.
Không cùng thương hoa tàn.
Nhớ nhau là chỗ ấy,
Khi hoa nở, hoa tàn.


LÝ THIỆP

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Thanh Khê, người Lạc Dương, nay thuộc tỉnh Hà Nam; làm quan một thời gian rồi ở ẩn và ngao du sông hồ.

562. Từ Tần Thành về, lại đề thơ ở cửa Vũ Quan

Xa cách Tần Thành đã khá lâu.
Đuổi nhau, núi chạy đến Thương Châu.
Khe lạnh cửa quan không chắn được,
Suốt đêm nước chảy, người thêm sầu.

563. Lên núi

Suốt ngày mơ mộng suốt ngày say.
Nghe nói xuân tàn, mới đến đây.
Chùa cổ gặp sư, ngồi chuyện gẫu,
Nhàn rỗi phù du thêm nửa ngày.


LƯƠNG HOÀNG

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

564. Bài từ về cô gái xinh đẹp

Hoa đào nở bên giếng.
Đôi én bay song song.
Có cô gái xinh đẹp
Màu xuân vương áo hồng.
Luôn soi gương, cánh cửa
Nửa muốn khép, nửa không.
Khách qua đường vô ý
Ngửi mùi son phấn nồng.


TRƯƠNG BÍCH

Chưa rõ tiểu sử tác giả.

565. Nhà nông

Trời chưa sáng hẳn đã ra đồng.
Được mùa vui sướng cảnh nhà nông.
Nhưng thóc lại vào tay kẻ khác.
Vợ con chết đói, nghĩ đau lòng.

 
< Trước   Tiếp >
blog comments powered by Disqus