Thơ dịch
CỔ THI TÁC DỊCH 6 | CỔ THI TÁC DỊCH 6 |
|
|
|
| Người viết: Thái Bá Tân | |
| 01/09/2009 | |
|
VƯƠNG CHI HOÁN Tác giả: Sinh năm 695, mất năm nào không rõ, người Biện Châu (nay là tỉnh Sơn Tây), cùng với Cao Thích, Vương Xương Linh và Sầm Tham là những nhà thơ biên tái xuất sắc; chỉ một ít bài thơ của ông được lưu truyền lại. 367. Lên lầu Quán Tước Sông Hoàng hòa với biển. 368. Ra biên ải Sông Hoàng như chảy vào mây trắng.
Chưa rõ tiểu sử tác giả 369. Cổ ý Thềm Hoàng Kim quét sạch. 370. Lời oán Bên lầu, đào lơ thơ,
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, cả tên họ, quê quán và cuộc đời cũng vậy, chỉ biết đây là một cung nữ thời Thiên Bảo, đời Đường Huyền Tông. 371. Lại đề thơ trên lá ngô đồng Ra khỏi cấm thành, chiếc lá thơ,
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tên chữ là Tự Trừng, người Hoài Nam, nay là Dương Châu, Giang Tô, làm quan Huyện úy Nam Đường rồi đến Trung Thư xá nhân. Tác phẩm: Toàn Đường Thi có 19 bài. 372. Thăm nhà họ Tạ Ngà ngà tìm đến Tạ gia chơi.
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tính tình phóng khoáng, năm 40 tuổi mới được giữ một chức quan nhỏ gọi là chấp kích; quen thân với Sầm Than, Lý Cố, Tiền Khởi. Toàn Đường Thi có 15 bài của ông. 373. Vịnh tượng gỗ Đẽo gỗ, đeo tơ làm tóc râu.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết là người nô bộc mang kiếm cho chủ, nên mới có tên Bổng Kiếm Bộc, ở Hàm Dương, "Toàn Đường Thi" có ba bài của ông. 374. Thơ Con chim đậu bờ giếng,
Tác giả: Sinh năm 748, mất 829, tự Quân Ngu, người Cô Tạng, nay thuộc tỉnh Cam Túc, đỗ tiến sĩ năm 769, từng giữ nhiều chức quan, tới Thượng thư bộ lễ. Tác phẩm: có "Lý Quân Ngu thi tập". 375. Đêm trên thành Thụ Hàng, nghe tiếng sáo Hồi Lạc cát giăng ngời ánh tuyết. 376. Bài hát Giang Nam Làm vợ người buôn bán. 377. Vừa mừng được gặp người em Sau mười năm loạn lạc, 378. Lên lầu Quán Tước Cột buồm trăm thước phía đằng xa.
HÀN THÚY VÂN Tác giả: Năm sinh, năm mất và sự nghiệp không rõ, tương truyền là cung nhân đời Đường Duyên Tông, nay chỉ còn lại bài thơ này. 379. Thơ đề trên lá đỏ Nước thì luôn vội vã.
Tác giả: Năm sinh, năm mất và sự nghiệp không rõ, còn ba bài thơ trong "Toàn Đường thi". 380. Nhớ chồng Chẳng sao trâm gỗ, dáng nhà quê,
Tác giả: Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp không rõ, chỉ biết ông là một ẩn sĩ theo Đạo giáo đời Đường, chỉ lưu lại duy nhất bài thơ này. 381. Trả lời Kê đầu lên gối đá,
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất; tự Thu Điền; người Thiều Dương nay thuộc tỉnh Hồ Nam, đỗ tiến sĩ, từng giữ nhiều chức quan khác nhau, còn lưu được 160 bài. 382. Cầu Dự Nhượng Dự Nhượng 1) đền ơn... câu chuyện này (1) Dù Nhîng lµ ngêi níc TÊn thêi Xu©n Thu ChiÕn Quèc, b¹n cña TrÝ B¸ lµ quan níc TÊn. TrÝ B¸ cã hiÒm khÝch víi vua TÊn, Dù Nhîng gi¶ ®iªn t×m c¸ch giÕt vua TÊn ®Ó gióp b¹n, nhng kh«ng thµnh, bÞ b¾t. Tríc khi chÕt, Nhîng xin ®îc mîn vua chiÕc ¸o, tr¶i ra ®Êt, vôt mÊy roi cho h¶ giËn. Tõ ®ã Nhîng næi tiÕng lµ bËc quèc sÜ, trung thÇn.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, người Giang Hoài, từng làm Huyện lệnh Đại Phiến. "Toàn Đường thi" có hai bài. 383. Vịnh tượng Kim Cương Trừng mắt, nhíu mày, vểnh cả râu,
Tác giả: Sinh năm 707, mất 760, người Sơn Đông thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay; đỗ tiến sĩ năm 726, làm quan đến chức Giám sát ngự sử. Tác phẩm: "Trừ Quang Hy tập" gồm 210 bài. 384. Đi qua Trường An Đi ngựa qua quán rượu, 385. Đường Lạc Dương Ngày xuân, trời ấm áp, (1) ChØ n¬i ë cña c¸c nhµ quyÒn quý.
Tác giả: Không rõ năm sinh, mất năm 747, người Lũng Tây nay thuộc tỉnh Cam Túc, từng giữ nhiều chức lớn trong triều. "Toàn Đường thi" còn lưu lại được hai bài thơ. 386. Viết khi thôi không còn làm tướng Nhường người hiền chức tướng,
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, người Kinh Nam nay thuộc tỉnh Hồ Bắc; đỗ tiến sĩ năm Quảng Minh đời Hy Tông, làm Tư Mã Lệ Châu "Toàn Đường thi" có 16 bài. 387. Cung Hoa Thanh Lấp đường cỏ mọc, vắng xe loan. (1) §ªm mïng b¶y th¸ng b¶y §êng Minh Hoµng cïng D¬ng Quý Phi ngåi ë lan can ®iÖn Thanh Hoa, chØ tay lªn trêi thÒ sèng chÕt cã nhau. Nay trªn trêi tr¨ng ®Õn råi tr¨ng ®i mµ ngêi xa tõng tùa lan can cïng vua ng¾m tr¨ng kh«ng cßn n÷a.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Diêm Thạc, làm tể tướng đời Đường Huyền Tông (713-755). 388. Trên Sông Phần, sợ mùa thu Sông Phần xa vạn dặm. KIM XƯƠNG TỰ Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, người Lâm An, nay thuộc tỉnh Chiết Giang. "Toàn Đường thi" chỉ còn bài này, các bản chép là "Xuân oán". 389. Bài ca Y Châu Hãy xua con chim nhỏ,
Tác giả: Nhà thơ thời Vãn Đường, không rõ năm sinh và năm mất. Tác phẩm: "Động đình tập". 390. Ngày thu trên hồ Ngũ hồ, ngày đang tắt.
Tác giả: Không rõ tiểu sử, chỉ biết ông người Hà Đông, làm chức tả thập di năm Đại Lịch (766 - 779). 391. Ngày thu Nắng chiều len tận ngõ.
Tác giả: Sinh năm 809, mất năm 840, tức Đường Văn Tông, làm vua 14 năm, bị gian thần và hoạn quan giết chết. 392. Thơ đề trong cung Đường xe vua cỏ mọc.
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tự Tòng Nhất, người Triệu Châu nay thuộc tỉnh Hà Bắc, đỗ tiến sĩ năm 748, làm quan tới chức Thứ sử Viên Châu. "Toàn Đường thi" còn hai bài 393. Lầu trúc Ngũ Hầu quan lớn chẳng bằng ta:
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 394. Lên lầu Thành cổ xác xơ bóng liễu hòe.
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, đỗ tiến sĩ năm 779, làm quan đến chức Bí thư thiếu giám. "Toàn Đường thi" còn được ba bài
395. Ở thành Đức Lạc Lên lầu Triệu Nữ ngắm hoa xuân.
Tác giả: Sinh năm 759, mất năm 818, tự Tải Chi, người Tần Châu, nay thuộc huyện Cam Túc, Sớm nổi tiếng giỏi văn thơ, làm quan đến chức thừa tướng. " Toàn Đường thi" còn khoảng 10 quyển thơ ông. 396. Trên núi, gặp người xa nhau đã lâu, rồi lại xa Xa nhau một loáng đã mười xuân.
Tác giả: Sinh năm 779, mất 831, tự Vi Chi, người Lạc Dương, Hà Nam, từng làm quan, bạn thân với Bạch Cư Dị, là nhà thơ nổi tiếng đời Đường. Ông còn là tác giả cuốn truyện "Hội Chân ký" mà sau này Vương Thực Phủ dựa vào để soạn lên cuốn Tây Sương ký. Tác phẩm: "Nguyên thị Trường Khách tập", gồm 60 quyển, trong đó có 26 quyển thơ, ước khoảng 800 bài. 397. Nghe tin Lý Bạch bị giáng làm Tư Mã Giang Châu Trong đêm leo lắt ngọn đèn dầu,
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tự Thừa Cát, người Nam Dương, nay thuộc tỉnh Hà Nam, suốt đời là một xử sĩ. Tác Phẩm: "Trương xử sĩ thi tập". 398. Tặng cung nữ Cung cấm trăng soi tán lá mềm.
Tác giả: Sinh năm 766, mất 837, tự Xác sĩ, người Đôn Hoàng, nay thuộc tỉnh Cam Túc. Ông đỗ tiến sĩ năm 791, làm quan đến chức Thượng thư Bộc xạ. Trong “Toàn Đường Thi” ông có một quyển. 399. Chờ ân vua Vườn nhỏ chim oanh hót. 400. Bài hát của người đi lính Gió bắc thổi nghìn dặm.
Tác giả: Không rõ tiểu sử. "Toàn Đường thi" còn lưu ba bài thơ của ông. 401. Ngày thu trên hồ Ngũ Hồ nắng tắt, cánh buồm nâu.
Tác giả: Sinh năm 865, mất 939, tự Vân Du, người Hà Nam, thi nhiều lần không đỗ, sau đó ở ẩn suốt đời. "Toàn Đường thi" còn 19 bài. 402. Khúc hát về sự giàu sang Người đẹp khi trang điểm,
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ. Người Kinh Nam, nay là Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Thứ sử Thần Châu. Thơ thiên về tả cảnh, trữ tình nội tâm. Tác phẩm: "Nhung Dục thi tập" khoảng 120 bài. 403. Tiễn nhau ở đình bên hồ Hồ xuân gợn sóng, liễu xanh rì. 404. Ở đất khách, gửi cho quan Sông lạnh, nước tràn, dạ vấn vương. 405. Họa bài thơ “Đêm thu ở lại trực, xem mưa”, Nam cung, trời mưa mãi. 1. Tức Tạ Diễu (464 – 499), nhà thơ thời Lục Triều, nổi tiếng về thể thơ ngũ ngôn, còn được gọi là Tiểu Tạ để phân biệt với Tạ Linh Vận (385 – 433, Đại Tạ), một nhà thơ khác thời Nam Bắc Triều.
Tác giả: Sinh Năm 755, mất không rõ năm nào, người Hà Trung nay thuộc tỉnh Sơn Tây, đỗ tiến sĩ năm 789, từng giữ nhiều chức quan khác nhau, hay xướng thơ với Bạch Cư Dị. "Toàn Đường thi" còn hai quyển của ông. 406. Họa bài thơ "Dương Liễu" của tú tài họ Luyện Liễu rủ bờ sông mái tóc xanh. 407. Ở phía đông thành, tiết xuân sớm Nơi nhà thơ ở chớm xuân sang. 408. Tiễn pháp sư Phụng Đình trở về An Nam Quê ở xứ Nam Việt. 409. Tiễn Đạm Công về chùa Long Đàm Khói đồng, nước biếc buổi ban mai. 1. Cửa nhà Phật.
Tác giả: tự Tái Chi, người Lạc Dương. Chưa rõ năm sinh, năm mất. Làm quan đến chức Lại bộ thượng thư. Tác phẩm: "Quyền Văn Công tập". 410. Khúc Ngọc Đài Thể Suốt đêm chờ trằn trọc.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, đỗ tiến sĩ năm 756, tự Mậu Chính, người An Định (Cam Túc). 411. Nỗi oán của nàng Tiệp Dư 1) Từ điện Kiến Chương cung nữ ra. (1) Mét cÊp bËc cña cung n÷. TiÖp D ë bµi nµy lµ nµng Ban TiÖp D, cã tµi s¾c ®îc vua yªu, sau TriÖu Phi YÕn vµo cung, vua nh¹t t×nh, ph¶i sang hÇu Th¸i hËu. 412. Quán trên núi Quán trên núi vắng người.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 413. Tiễn bạn Tuyết rơi từ sáng, trời không mây.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 414. Liễu bên sông Bên sông tha thướt liễu buông cành.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết đậu tiến sĩ năm 779, làm quan đến chức Trung thư xá nhân. 415. Khúc hát đêm thu Nước đồng hồ nhỏ suốt năm canh. 416. Qua vườn Hán Uyển Thái Dịch én về, chấp chới bay.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 417. Vịnh trăng Mồng bốn trăng non, một mảng mờ,
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 418. Tuyệt cú Bến sông, thuyền nhỏ cột bên lầu.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Liêm Giang, người Hồ Châu. 419. Xuân muộn Không người thương xót cánh hoa rơi.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 420. Lời than của vũ nữ cung Trường Tín Vua không cần nữa, biết đi đâu?
Tác giả: Không rõ năm sinh, mất 863; tự Kha Cổ, người Tề châu, nay thuộc tỉnh Giang Tô. 421. Khúc hát Chiết Lương Liễu Chi Thấm mưa, nụ hé, lá xanh màu. 422. Bài hát bẻ cành dương liễu Nhờ ơn mưa móc mọc chồi non,
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, người Tấn Dương, tự Tử Vũ, đỗ tiến sĩ, làm quan đến Công bộ viên ngoại lang . 423. Hát ở Lương Châu Trống giục lên đường, tiếng ngựa xe.
Tác giả: Không rõ năm sinh năm mất, tự Tập Chi, người Triệu Quân, từng theo Hàn Dũ tập làm văn. Đỗ tiến sĩ, làm đến chức Tiết độ sứ Sơn Nam. Tác phẩm: Luận ngữ bút giải Ngũ mộc kinh, Lý văn công tập.... 424. Sống ở nơi yên tĩnh Chọn được nơi này sống thảnh thơi.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất; đỗ tiến sĩ năm 805, từng làm tới chức tể tướng cuối đời từ quan về ở ẩn, vui thú thơ rượu với bạn bè, như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích... 425. Nhà bên suối Suối chảy ngay trước nhà.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất và quê quán, chỉ biết ông là một nhà sư sống vào đời vua Hy Tông (874 - 888). 426. Tuyệt cú Cột chiếc thuyền con bên gốc cây,
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 427. Nỗi oán trong cung Lơ thơ bóng liễu rủ trước lầu.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 428. Mưa buổi sáng sớm Núi biếc, sông xanh, mây vấn vương.
Tác giả: Sinh 725, mất 785, người Hải Diêm, Tố Châu, nay thuộc tỉnh Giang Tô, có tài thơ, vẽ và viết chữ đẹp, thích khôi hài, trào phúng, đỗ tiến sĩ niên hiệu Chí Đức (756 - 757). 429. Nghe tiếng tù và, nhớ quê Vườn phủ rêu xanh, vàng lá rụng. 430. Bài từ trong cung Tiếng đàn, tiếng hát bên lầu ngọc.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 431. Phiến đá Tây Thi Tây Thi giặt lụa ở nơi này,
Tác giả: Sống khoảng giữa thế kỷ thứ 9, người Quách Dương, nay là Quảng Tây, đỗ tiến sĩ đời Đường, làm quan đến chức Thứ sử Dương Châu. Tác phẩm: "Tào Từ bộ tập". 432. Bài hát Lũng Tây Liều thân tiêu giặc diệt Hung Nô,
Tác giả: Sinh năm 833, mất năm 909, tự Chiêu Đông, người Dư Hàng, nay thuộc tỉnh Chiết Giang, thi tiến sĩ mười lần không đỗ. Tác phẩm: "La Chiêu Đông tập". 433. Tặng kỹ nữ Vân Anh Chung Lăng cách biệt chục năm nay, 434. Tự khuây khỏa Thường vui khi được, mất thì buồn. 435. Nàng Tây Thi Vận nước luân hồi thịnh lại suy. 436. Hoa đào Man mác mùi hương, thấm áo quần. 437. Nghĩ về mùa xuân khi ở sông Khúc Nắng xuân lại ấm, sắc hoa phô,
Tác giả: Sinh năm 718, mất năm 772, người Lạc Dương (Hà Nam), thi đỗ Minh Kinh năm đầu Thiên Bảo Đường Huyền Tông, giữ chức Hiệu thư lang, năm 756 làm Thứ sử Nhữ Châu. Tác phẩm: trong "Toàn Đường thi" có một quyển của ông. 438. Đêm ở Ba Lăng, chia tay viên ngoại họ Vương Lúc liễu ra bông, rời Lạc Dương. 439. Ý xuân Cỏ xanh, liễu biếc, sắc hoa hồng. 440. Tiễn thị lang họ Lý đi Thường Châu Gió mùa, tuyết lạnh, trời đầy mây. 441. Mới đến Ba Lăng, cùng Lý Thập Nhị Bạch Lá phong trên bến rụng như hoa.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 442. Xem lễ cầu mưa
Tác giả: Nhà thơ lớn đời Đường, không rõ năm sinh năm mất, người Nam Dương, nay là huyện Đặng, tỉnh Hà Nam, đỗ tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ 3 (774), từng làm Giám chầu thứ sử. Tác phẩm: Sầm Than tập. 443. Cảnh xuân, nhà trên núi Vườn Lương cánh quạ giữa chiều tà. 444. Thơ đề trên cây liễu bên cầu Ngày xưa ta đã sống nơi này. 445. Bên bờ sông Vị, nhớ Tần Xuyên Sông Vị chảy về đông, 446. Giấc mơ xuân Đêm xuân gió lạnh thổi qua giường. 447. Tiễn bạn về kinh đô Một mình một ngựa hướng về tây. 448. Tháng Chín hành quân, nhớ vườn cũ ở Trường An Xóm nhỏ Đăng Cao, đã đến đây, 449. Từ đài phong Mục Túc gửi về nhà Bên đài Mục Túc đón mùa xuân. 450. Giữa sa mạc, cảm tác Xa nhà, rong ruổi ngựa về tây. 451. Từ cửa Ngọc Quan, gửi cho Muôn dặm Trường An ở phía đông, 452. Nhớ vườn cũ ở Trường An Muốn leo núi, lại sợ 453. Gặp sứ giả vào kinh đô Trông về quê cũ xa vời vợi, 454. Viết trên sa mạc Hạ Diên, lúc mặt trời mọc Mặt trời mọc trên cát. 455. Lên gác Tổng Trì Chạm mặt trời chót vót. 456. Họa bài thơ "Buối sớm vào chầu Ngoài làng gà gáy, tiếng xôn xao. 457. Có việc ở tỉnh Tây Dịch Tây Dịch, mây tan, trời lại sáng. 458. Tiễn anh Trương đi làm úy ở Nam Hải Anh ngại đến Nam Hải
Chưa rõ tiểu sử tác giả 459. Cảnh chiều ở Nhạc Dương Chim nhạn đã quay lại.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, là nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường, học giỏi nhưng không đi thi, suốt đời ở ẩn, người quê Hà Nam. 460. Khúc xuân oán Bên song cửa sổ ánh dương tà. 461. Trăng đêm Nửa nhà trăng chiếu, sát lan can 462. Nỗi oán giận ngày xuân Xế chiều, nắng nhạt lụi ngoài hiên.
Tác giả: Sinh năm 709, mất năm 786, tự Văn Phòng, người Hà Giang, nay thuộc tỉnh Hà Bắc; đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 21 (733) đời Đường Huyền Tông, từng giữ các chức quan nhỏ nhưng luôn gặp điều xấu, bị vu cáo, chết tại nhiệm sở; vì vậy mà thơ ông thường buồn. Tác phẩm: còn lưu được "Lưu Tùy chân tập " gồm hơn 400 bài. 463. Ngủ ở núi Phù Dung, gặp tuyết Chiều đông, núi lạnh, hoàng hôn nhòa. 464. Tức cảnh, tặng Lý Mục Thuyền con một chấm cuối chân trời, 465. Lên núi, ghé thăm nhà họ Trịnh Hoa rụng, cỏ thơm, nhà quạnh hiu. 466. Tiễn Linh Triệt Chùa Trúc Lâm xa xa. 467. Nghe chơi đàn cầm Như gió thổi rừng cây, 468. Ngày thu, lên chùa trên đài ông Ngô, trông ra xa Chạnh lòng nhớ quê cũ.. 469. Đi từ Hạ Khẩu đến bãi Anh Vũ, trông sang Bãi sông không sóng cũng không sương.
Đường dài hút heo, sông tạnh. 471. Tìm đạo sĩ Thường ở Nam Khê Ai qua đây, đường nhỏ 472. Đi ngang qua mộ Phiếu Mẫu 1) Chịu ơn từng bát gạo, 1. Mộ người đàn bà giặt vải được Hàn Tín xây để nhớ ơn bà cưu mang mình thuở hàn vi, mộ mẹ Hàn Tín đối diện, cách thành Hoài An bốn mươi dặm về phía tây. 473. Thơ làm lúc năm mới Xa nhà, xuân đến sớm. 474. Tiễn Vương Mười Một đi chơi miền nam Nhìn con thuyền rời bến, 475. Đi qua quê của Trương Minh Phủ, Có ông già tóc bạc, 476. Ở Giang Châu, tiễn hai quan viên Từng trải sự đời, lo ứng biến. 477. Qua nhà Giả Nghị ở Trường Sa Ba năm chịu cảnh sống lưu đày,
Tác giả: Không rõ năm sinh, mất năm 761, người Bác Châu, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, làm quan đến chức thái tử thiêm sự. 478. Lầu Vân Môn Chùa nằm sát vách đá.
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tên chữ là Chính Kỷ, tự gọi mình là Hành Ngạc u nhân, người Triệu Châu, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, đỗ tiến sĩ năm Đại lịch thứ 5 (770). Cuối đời từ quan về ở ẩn tại Hành Sơn. Tác phẩm: "Lý Đoan thi tập" hiện còn hơn 180 bài. 479. Vái trăng mới Mở rèm, thấy trăng mới, 480. Đàn tranh Người đẹp ngồi bên cửa (1) Tøc Chu Du, tíng nhµ Ng« thêi Tam Quèc, næi tiÕng lµ ngêi sµnh ©m nh¹c. Mét h«m Lç Tóc mêi ®Õn ch¬i, cho mét c« g¸i giái ®µn ch¬i ®µn tranh cho Du nghe. Gi÷ thÓ diÖn, Du kh«ng tiÖn nh×n ngang nh×n ngöa nªn suèt buæi ngåi yªn. C« g¸i cè t×nh g¶y sai d©y ®µn, xem Du cã biÕt kh«ng. 481. Dạo chơi bên suôi, gặp mưa, tặng Liễu Trung Dung Đêm buông, núi mờ tối.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 482. Lầu trúc Chức quan nho nhỏ, diễu quan to.
Tác giả: Sinh năm 722, mất năm 780, tên chữ là Trọng Vân, người Ngô Hưng, nay là tỉnh Chiết Giang, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Khảo công Lang trung. Tác phẩm: "Tiền Trọng Văn tập". 483. Giang hồ gặp nhau Giang hồ nước Yên, Triệu 484. Ngày thu Ngoài hiên, chiều bóng xế. 485. Chim nhạn về Tiêu Tương sông biếc, cỏ xanh đê. 486. Viết khi đi thuyền trên sông Ngủ say trong thuyền lá. 487. Chiều xuân, về lều tranh núi cũ Tân Di xuân hết, chẳng còn hoa. 488. Đề ở nhà họ Thôi, ẩn dật trên núi Đường hoa thược dược phủ rêu dày. 489. Đi thuyền trên sông, ngắm núi Khuông Lư Gần mà không lên được 490. Tiễn nhà sư về Nhật Bản Có dịp đến thượng quốc,
491. Trong phòng văn ở Cốc Khẩu, Bờ dậu ráng mây phủ.
Tác giả: Sinh và mất khoảng trước sau năm 766, tên chữ là Từ Tốn, người Nhương Châu, nay là Hồ Nam, đỗ tiến sĩ thời Thiên Bảo, làm quan đến chức Từ Bộ viên ngoại lang. Rất nổi tiếng với bài Phong Kiều dạ bạc. 492. Đêm đậu thuyền ở bến Phong Kiều 1) Sương bạc, trăng tà, phong đứng yên, (1) ë phÝa t©y thµnh C« T« (T« Ch©u), tØnh Giang T«. 493. Lên lầu Dân bị quan bắt lính.
Tác giả: Chưa rõ tiểu sử. 494. Thơ đề “Cầu đứt tình” Chỉ có tình yêu bền chặt mãi. 1. Đời xưa người Trung Quốc có tục bẽ cành liễu khi chia tay.
Tác giả: Sinh năm 732, mất năm 789, người Thuận Châu, nay thuộc tỉnh Giang Tô, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Phủ Châu thứ sử, sau bỏ quan làm đạo sĩ. Tác phẩm: " Đái Thúc Luân tập". 495. Miếu Tam Lư Nguyên, Tương cứ chảy mãi. 496. Mơ về Ngư Dương Đầu thôn liễu mơn mởn. 497. Bạn cũ quê Giang Nam Vào thu, trăng lại sáng. 498. Đêm giao thừa, trọ ở trạm Thạch Đầu Một mình trong quán trọ.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Doãn Ngôn, người đất Bồ, phủ Hà Trung, nay thuộc tỉnh Sơn Tây. Khoảng thời gian từ 766 đến 778 nhiều lần thi không đỗ, sau được tiến làm chức úy huyện Văn Khánh. Tác phẩm có Thi Tập gồm mười quyển. 499. Tiễn Lý Đoan Ải cũ toàn cỏ úa. 500. Chiều đỗ thuyền ở Ngạc Châu Mây tạnh, mờ mờ thấy Hán Dương, 501. Chiều xuân ở Trường An Gió thổi mưa qua núi.
Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, tự Ân Công, người Bắc Lăng, nay là huyện Định, tỉnh Trực Lệ. Ông lận đận trong thi cử, khi đỗ tiến sĩ tuổi đã cao, thuộc thế hệ sau Đỗ Phủ, trước Bạch Cư Dị. Ông làm quan đến chức Tiết độ sứ Lĩnh Nam. Bài thơ dưới đây rất được người đương thời ưu thích. 502. Thơ đề chỗ gặp gỡ ngày trước Năm ngoái ngày này, cũng nơi này,
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, đỗ tiễn sĩ năm 754, tự Quận Bình, người Nam Dương (Hà Nam). Tác phẩm có "Thi tập", gồm 5 quyển. 503. Tiết hàn thực Khắp thành đâu cũng thấy hoa bay. 504. Thơ tặng nhân tiếp Trình Cận Trải chiếu tre hóng gió.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất. Hạo Nhiên là pháp danh, ông họ Tạ, tên Trú, vào lúc có tuổi bỏ đi tu, rất được Vi Ứng Vật kính trọng 505. Tìm Lục Hồng Tiệm, không gặp Đường quê cây rậm rạp.
Tác giả: Sinh năm 720, mất 790, tự Văn Minh, người Quảng Bình, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, đỗ tiến sĩ và từng giữ nhiều chức quan khác nhau. Tác phẩm: "Tư Không Văn Minh thi tập" gồm hơn 70 bài còn giữ được. 506. Chuyện ở thôn ven sông Vội về, quên níu cột thuyền câu. 507. Từ biệt Lư Tần Khanh Biết anh đang có hẹn, 508. Cùng ngắm hoa và uống rượu, say với Vệ Tượng Mái tóc cả hai cùng điểm bạc. 509. Giặc yên, tiễn người về bắc Loạn, xuống nam lánh nạn. 510. Từ giã Hàn Thân ở Vân Dương Chia tay nơi sông biển. 511. Mừng được người em Không láng giềng, đêm vắng.
Tác giả: Sinh năm 789, mất 816, người Phúc Xương, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông là tôn thất nhà Đường, không thi tiến sĩ và chỉ được làm một chức quan nhỏ. Ông mất sớm, để lại ba quyển thơ. 512. Măng non ở vườn bắc Xương Cốc Viết thơ, tre nhỏ chẻ từng thanh.
Tác giả: Sinh năm 751, mất năm 835, tên chữ là Trọng Sơ, người Khoản Châu, nay là Hứa Xương, tỉnh Hà Nam, đỗ tiến sĩ, làm quan đến Tư mã Thiểm Châu. Tác phẩm: "Vương Từ Mã tập". 513. Lời nàng dâu mới Sau cưới được ba ngày, 514. Cung cũ Tiêu điều cung cũ bám rêu phong. 515. Vịnh cung Hoa Thanh Đi hết Giang Nam mấy chục dặm, 516. Đêm rằm ngắm trăng Sân sau, con quạ đậu trên cây. 517. Đá vọng phu Đứng chờ chồng mỏi mắt 518. Cuối năm, tự thương mình Mọi người muốn trẻ, có ai không?
Tác giả: Sinh năm 736, mất năm 830, người Kinh Triệu, Tràng An, nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, từng làm Thứ sử Tô Châu nên cũng gọi là Vi Tô Châu, phong cách thơ gần với lối sơn thủy của Vương Duy. 519. Nghe sáo trên sông, tiễn quan thị ngự họ Lục Nâng chén này tiễn bác. 520. Khe phía tây ở Trừ Châu Âm thầm cỏ mọc sát bờ sông. 521. Tiết hàn thực, gửi em ở Kinh Sư Cấm lửa, trời mưa, phòng lạnh tanh. 522. Trả lời Lý Cán Vừa đọc Kinh Dịch xong. 523. Đêm thu, gửi Viên ngoại họ Khâu Đêm thu, dạo một mình. 524. Ở Phù Đắc, mưa chiều, đưa tiễn Lý Tào Mưa phùn ở Đông Sở. 525. Gửi đạo sĩ trong núi Toàn Tiêu Sáng, phòng lạnh, chợt nhớ 526. Đêm đỗ thuyền ở huyện Vu Di Bến đò cạnh ngõ trạm. 527. Bắt đầu ra đi ở Dương Tử, Buồn, chia tay ly biệt, 528. Gặp Phùng Trứ ở Trường An Mưa Ba Lăng ướt áo. 529. Bắt chước Đào Bành Trạch Sương lạnh, cây cỏ héo, 530. Tiễn Vương chủ ở Phần Thành Làm quan lúc còn trẻ, 531. Trên sông Hoài, mừng gặp bạn cũ ở Lương Xuyên Lưu lạc ở Giang Hán. 532. Gửi Lý Đàm và Nguyên Tích Năm ngoái trong vườn, tiễn các anh. 533. Cánh đồng phía đông Việc quan luôn bận bịu. 534. Ở ẩn Ở đời phải vật lộn. 535. Từ Củng Lạc đi thuyền vào sông Hoàng Hà, Trời nước đằng đông biếc một màu.
Tác giả: Sinh năm 773, mất năm 819, tự Tử Hậu, người Kinh Triệu Vạn Niên, nay là Tây An, Thiểm Tây, đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), năm thứ 14 (798) lại đỗ khoa Bác học Hoằng tử, được giữ chức giám sát Ngự sử, sau bị thất sủng. Tác phẩm: "Liễu Hà Đông tập". 536. Tuyết trên sông Không bóng chim trong núi. 537. Cùng đi xem núi với nhà sư Hạo Sơ, Thu đến không đâu, buồn vấn vương. 538. Ông chài Uống nước sông Tương, đun củi Sở. 539. Ở miền khe núi Bị chức quan trói buộc, 540. Sáng sớm đọc sách thiền ở viện Siêu Sư Súc miệng bằng nước lạnh.
Tác giả: Sinh năm 751, mất năm 814, tên chữ là Trọng Sở, người Hồ Châu, nay là tỉnh Chiết Giang, năm mươi tuổi mới đỗ tiến sĩ, làm quan đến Phiên Dương uý. Tác phẩm: "Mạnh Đông dã tập". 541. Khúc ngâm gửi theo thư Mực hòa cùng nước mắt, 542. Cổ ly biệt Chàng lại đi đâu nữa? 543. Khúc ngâm người con đi chơi xa Con đi xa, bà mẹ 544. Bài hát người liệt nữ Chờ nhau đến già rũ, 545. Bài từ người đàn bà dệt vải Chàng là trai đồng ruộng.
Tác giả: Sinh năm 768, mất năm 824, tên chữ là Thoái Chi, người Nam Dương, chống lại chủ trương của Phật giáo, khởi xướng phong trào tân văn, rất có ảnh hưởng đến đương thời và sau này. 546. Đầu xuân, mưa nhỏ Như sữa, mưa rơi ướt lá cành. 547. Xuân muộn Xuân chẳng dừng lâu chờ cỏ cây 548. Bị giáng chức đổi đi xa, Buổi sáng can vua, chiều có lệnh 549. Trong tiệc rượu, dâng Phụng sự nhà vua, lo việc công,
Tác giả: Sinh năm 768, mất năm 839, tự Văn Xương, người Ngô Quận, nay là Tô Châu, Giang Tô; đỗ tiến sĩ năm 798, làm quan đến chức Quốc Tử Tư nghiệp. Tác phẩm: "Trương Tư Mã tập". 550. Gửi nhà sư ở Tây Phong Suối chảy dưới rừng thông. 551. Ý nghĩ mùa thu Lạc Dương gió thổi, héo tàn hoa. 552. Khúc hát Thành Đô Cẩm Giang khói nước phía đằng tây. 553. Tặng nhà sư Nhật Nam ở trong núi Trước cổng hai ngọn núi. 554. Thương bạn cũ mất tích ở đất Phiên Anh đi lính năm ngoái. 555. Gửi sứ quân họ Lưu ở Hòa Châu Xa nhau lần ấy đã bao ngày.
Tác giả: Năm sinh không rõ, mất 853, tự Thừa Cát, người Nam Dương, không ra làm quan mà sống ẩn dật. 556. Đài Tập Linh 1) Mặt trời buổi sáng đã nhô cao. 1. Còn nền cũ bên núi Ly Sơn, huyện Lâm Đồng, tỉnh Thiểm Tây, do vua Đường Minh Hoàng lập để thờ Lão Tử. 557. Khúc hát “Hà Mãn Tử” 1) Quê cũ xa nghìn dặm. 558. Thơ đề bến Kim Lăng Bên bến Kim Lăng, một mái lầu.
Tác giả: Sinh năm 797, không rõ mất năm nào, người Việt Châu, nay thuộc tỉnh Chiết Giang; đỗ tiến sĩ năm 826, nổi tiếng thơ hay, được Trương Tịch rất đề cao. 559. Bài thơ cung nữ Cổng đóng, hoa đào nở lặng yên. 560. Hỏi chồng Đêm động phòng, sáng dậy
Tác giả: Nữ thi sĩ đời đường, sinh năm 768, mất năm 831, tự Hồng Độ, người Trường An, thân phụ bà làm quan ở đất Thục nên bà lưu ngụ ở đó. Bà biết làm thơ từ thuở lên tám, giao du nhiều với các nhà thơ nổi tiếng cùng thời như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tich, Đỗ Mục, vân vân. 561. Bài từ ngóng xuân Không cùng ngắm hoa nở.
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Thanh Khê, người Lạc Dương, nay thuộc tỉnh Hà Nam; làm quan một thời gian rồi ở ẩn và ngao du sông hồ. 562. Từ Tần Thành về, lại đề thơ ở cửa Vũ Quan Xa cách Tần Thành đã khá lâu. 563. Lên núi Suốt ngày mơ mộng suốt ngày say.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 564. Bài từ về cô gái xinh đẹp Hoa đào nở bên giếng.
Chưa rõ tiểu sử tác giả. 565. Nhà nông Trời chưa sáng hẳn đã ra đồng. |
| < Trước | Tiếp > |
|---|


