Trang chủ arrow Thơ dịch arrow CỔ THI TÁC DỊCH 8
CỔ THI TÁC DỊCH 8 PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân   
01/09/2009

TÔ THỨC

Tác giả: Sinh năm 1037, mất 1101, hiệu Đông Pha, người Mỹ Sơn, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, nhà thơ lớn, nhà tản văn lừng danh đời tống.

810. Hoa hải đường

Gió xuân hây hẩy gọi trăng lên.
Trăng dọi xuyên mù, đến mép hiên.
Chỉ sợ rồi khuya, hoa ngủ thiếp,
Nên chẳng ngắm hoa cũng thắp đèn.

811. Uống rượu trên hồ lúc mưa vừa tạnh

Phía mưa vừa tạnh, nước long lanh,
Phía vẫn còn mưa, mờ núi xanh.
Tây Hồ, Tây Thi đem so sánh,
Riêng chung một vẻ, đẹp nghiêng thành.

812. Cảnh Tây Hồ

Tháng Sáu, Tây Hồ khách dạo chơi.
Lá sen xanh biếc tận chân trời.
Nơi đây cảnh khác, mà sen đỏ,
Cũng đỏ cái màu khác mọi nơi.

813. Ngày 27 tháng 6, viết ở lầu trong lúc say

Núi xanh chưa kịp phủ mây đen,
Đã nghe mưa gõ rộn trên thuyền.
Bỗng trận gió to xua đi hết,
Rồi nước và trời lại tĩnh yên.

814. Trăng rằm Trung Thu

Trời thu trong sáng chuyển vào mây.
Sông Ngân chuyển sáng đến trăng này.
Kiếp ấy đêm trăng không gặp được.
Bây giờ trăng sáng, gặp đâu đây?

815. Đêm xuân

Không gì sánh được với đêm xuân.
Hoa thoảng hương thơm, nguyệt trắng ngần.
Trong lầu tiếng nhạc vang khe khẽ.
Bóng đêm kiên nhẫn đợi ngoài sân.

816. Rằm tháng Giêng, hầu tiệc vua

Trăng lạnh, sao thưa, lầu Kiến Chương.
Gió xuân thổi khói lư trầm hương.
Thông Minh điện ngọc, quan đứng đợi.
Thánh Hoàng tỏa sáng tựa vầng dương.

817. Trên đường đi Tân Thành

Biết ta chơi núi sáng hôm nay,
Gió thổi mưa tan, đẹp thế này.
Mây tạnh, trời cao như mũ úp.
Đỏ rực mặt trời trên tán cây.
Xanh xanh bờ trúc, đào tươi tốt.
Nước khe trắng lóa, liễu lung lay.
Vui vẻ người dân trong xóm nhỏ,
Nấu nước, làm cơm cho thợ cày.

 

 


LÝ THANH CHIẾU

Chưa rõ tiểu sử.

818. Theo điệu "Túy hoa âm"

Sương mù mỏng, mây dày.
Buồn ủ ê suốt ngày.
Lò hương vàng đã tắt.
Trời lạnh, gió heo may.
Giữa hoàng hôn uống rượu.
Uống mãi mà không say.
Vườn đông hoa cúc nở.
Gió thổi rèm lầu tây.

819. Theo điệu "Nhất tiễn mai"

Ngó sen tàn, thu lạnh.
Cởi áo, bước lên thuyền.
Gió đưa thư ai đến?
Chim nhạn về, trăng lên.
Hoa cứ tàn, nước chảy.
Nỗi buồn không chịu yên.
Tình xưa muốn dứt bỏ,
Mà cứ nghĩ triền miên.


HOÀNG ĐÌNH KIÊN

Tác giả: Sinh năm 1045, mất 1105, tự Lỗ Trực, hiệu Sơn Cốc, người Hồng Châu, Phân Ninh, đỗ tiến sĩ đời Tống Anh Tông. Tác phẩm: "Sơn Cốc tập".

820. Ngẫu hứng trên lầu Nam ở Ngạc Châu

Bốn bề nước biếc nối non xanh.
Hương sen thoang thoảng bốn xung quanh.
Gió mát, trăng trong hào phóng tặng
Cho khách phương Nam vị mát lành.

821. Trời mưa, lên lầu Nhạc Dương  ngắm núi Quân Sơn

Đứng tựa lan can, mưa gió to,
Ngắm dãy Quân Sơn lượn nhấp nhô.
Giá được một lần nhìn núi biếc
Từ đỉnh sóng kia trắng giữa hồ.

822. Tiết Thanh Minh

Thanh Minh trời đẹp, mận khoe màu.
Mộ hoang đồng trống gợi thêm sầu.
Sấm nổ âm vang, rồng rắn thức.
Mưa dầm đúng lúc, tốt vườn rau.
Chịu nhục ăn thừa nên vợ trách. 1)
Chết cháy không ra, chối tước hầu. 2)
Khôn dại, ngu hiền chưa dám nói.
Nhưng mộ người nào cũng giống nhau.

1. Xưa có người ăn của tế thừa no say rồi về khoe với vợ được nhà quyền quí mời. Sau vợ biết chuyện liền trách không giữ liêm sỉ.
2. Giới Tử Thôi giúp Tấn Văn Công trong lúc khó khăn, đã xẻo thịt bắp chân mình cho vua ăn. Khi lấy lại ngôi vua, Văn Công quên không trọng thưởng. Ông bỏ vào rừng ở ẩn cùng mẹ. Vua cho mời mãi không ra. Khi vua đốt rừng bắt ra, ông thà chịu chết cháy trong rừng. Từ đó vua ra lệnh không được nhóm lửa vào ngày Hàn Thực.


TĂNG KỶ

Tác giả: Sinh năm 1084, mất 1166, bị Tần Cối chèn ép, bỏ quan về nhà, khi Tần Cối chết mới ra làm quan lại.

823. Giữa đường núi Tam Cù

Đang mùa mơ chín, nắng vàng hoe,
Rời thuyền, đi bộ dọc bờ khe.
Đường rợp bóng cây như lúc đến.
Lại thêm chim hót rộn bốn bề.


TRẦN LIỆT

Tác giả: Sinh khoảng năm 1088, năm mất không rõ. Làm quan tới chức Quốc tử trực giảng.

824. Thơ đề trên chiếc đèn 1)

Nhà giàu đóng một đèn,
Như kho bớt hạt thóc.
Nhà nghèo đóng một đèn,
Cha con ôm nhau khóc.
Quan lớn có biết không?
Quan bận với người ngọc.

1. Năm Nguyên Phong đời Thần Tông nhà Tống, quan thái thú Phúc Châu là Lưu Cẩn bắt dân bất kể giàu nghèo mỗi hộ phải nộp đủ mười chiếc đèn để đốt đêm rằm tháng Giêng. Tác giả đề bài thơ này trên chiếc đèn lồng treo bên gác lầu.


PHẠM THÀNH ĐẠI

Tác giả: Sinh năm 1126, mất 1193, tự Trí Năng, cư sĩ, là một trong những nhà thơ lớn thời Nam Tống.

825. Đê ngang

Xuân về trên bến, nước xanh trong.
Cầu đá như xưa, cạnh tháp hồng.
Đê nhỏ, mưa phùn đưa tiễn khách.
Cột thuyền gốc liễu sát bờ sông .

826. Cảm hứng nhỏ chốn thôn quê
Bài một

Vườn rau, bươm bướm lượn bên hoa.
Thôn quê ít khách đến thăm nhà.
Chợt nghe chó sủa, gà nhao nhác.
Biết ngay có khách đến mua trà.

827. Cảm hứng nhỏ chốn thôn quê
Bài hai

Nhổ cỏ, xe gai, bận lút đầu.
Mỗi người một việc tận đêm thâu.
Chưa biết cày bừa và dệt vài,
Trẻ tập trồng dưa bên gốc dâu.


VƯƠNG VÕ NỂ

Chưa rõ tác giả là ai.


828. Tiết thanh minh

Thanh minh, hoa rượu, bánh đều không.
Như sư, không chút vấn vương lòng.
Hàng xóm đêm qua cho tí lửa,
Sáng ngồi thắp nến đọc bên song.


THIẾN ĐÀO

Tác giả: Bà sinh khoảng năm 1010, không rõ mất năm nào, là người hầu của Khấu Chẩn, tể tướng đời Tống Chân Tông.

829. Thưa với Khấu Công

Bài thơ đem đổi lụa màu hồng,
Hình như ngưòi đẹp chửa hài lòng.
Không biết tay nàng thoi thoăn thoắt
Qua lại mấy lần mới dệt xong.


ÂU DƯƠNG TU

Tác giả: Sinh năm 1007, mất 1072, nhà thơ, nhà tản văn lớn đời Bắc Tống, tự Vĩnh Thúc, hiệu Túy Ông, về già đổi thành Lục Nhất Cư Sĩ, ông đề xướng lối thơ cách tân.

830. Chơi xuân ở đỉnh Phong Lạc

Núi xanh, lá đỏ, ánh dương tà.
Màu trời vàng rực phía xa xa.
Khách chơi không ngại xuân sắp hết,
Vẫn dạo quanh đình, dẫm nát hoa.

831. Đùa trả lời Nguyên Trân

Gió xuân như thể tránh nơi đây.
Tuyết cũ cuối mùa trĩu lá cây.
Tháng Hai đã đến, hoa không nở.
Ngọ nguậy chồi măng dưới đất dày.
Đêm nghe tiếng nhạn, thương quê cũ.
Ngày ốm, buồn nhìn tuyết với mây.
Lạc Dương hoa đẹp từng là khách,
Chẳng sao, hoa nở muộn nơi này.

832. Theo điệu " Đạp sa hành"

Mai tàn quán khách, liễu bờ mương.
Cỏ thơm, gió ấm, ngựa buông cương.
Cái buồn ly biệt buồn thêm mãi,
Như nước mùa xuân chảy vệ đường.
Đừng tựa lan can nơi gác ngọc.
Hai mắt lệ tràn, lòng vấn vương.
Núi xuân trước mặt xa vời vợi,
Người còn xa nữa, người yêu thương.


TÔ THUẤN KHÂM

Tác giả: Sinh năm 1008, mất 1048, tự Tư Mỹ, có tư tưởng tiến bộ, bị bọn quyền quí chèn ép, cách chức và lui về ở ẩn tại Tô Châu, nay là tỉnh Giang Tô. Ông là người chủ trương cách tân thơ ca thời bấy giờ.

833. Có khách đến nhà

Khách đến bàn thời cuộc.
Nhìn nhau buồn mênh mông..
Giặc Man giết tướng ải.
Sâu bọ phá ngoài đồng.
Ở vùng quê heo hút,
Có chí mà hóa không.
Ai người lo nợ nước?
Uống rượu, lòng giận lòng.

834. Bày tỏ nỗi lòng

Ta tuy là nhà nho,
Nhưng muốn giết giặc Hồ.
Không được dùng, đành chịu.
Cảm thương, lòng cháy khô.
Ngày nằm giữa đống sách.
Đêm mơ dựng cơ đồ.


LÝ CẤU

Tác giả: Sinh năm 1009, mất 1059, có tư tưởng tiến bộ, nổi tiếng thơ hay, phản ánh nỗi khổ của nhân dân.

835. Đọc bài "Trường Hận từ"

Đường vào đất Thục lắm gian truân.
Đêm mưa, não ruột tiếng xe lăn.
Chắc vua không biết, không thương xót,
Nếu mình bỏ mạng lúc hành quân.


VƯƠNG AN THẠCH

Tác giả: Sinh năm 1021, mất 1086, nhà chính trị, nhà thơ, nhà tản văn lớn thời Bắc Tống, tự Giới Phủ, người Lâm Xuyên, tỉnh Giang Tây ngày nay.

836. Hoa mai

Bên tường, mấy cành mai
Nở trong sương giá rét.
Nhờ hoa có mùi thơm,
Nên không lẫn với tuyết

837. Đêm xuân

Đồng hồ cạn nước, bát hương tàn.
Từng hồi gió lạnh, buốt tâm can.
Trăng hắt bóng hoa lên bậu cửa.
Cảnh buồn như thế, ngủ sao an.

838. Bóng hoa

Bóng hoa dày đặc rụng bên chân.
Đã bảo con sen quét mấy lần.
Nắng tắt hoa tàn, trăng lại mọc.
Bóng hoa lần nữa rụng đầy sân.

839. Thơ viết trên vách nhà Hồ Âm tiên sinh

Không rêu, không bụi, mái nhà tranh.
Hoa mộc tự tay xén, cắt cành.
Con mương dẫn nước vào ruộng lúa.
Núi như cổng mở, đón màu xanh.

840. Mồng một Tết

Một năm nữa hết, pháo âm vang.
Rượu Đồ Tô uống, đón xuân sang.
Trước cửa nhà nhà treo thẻ đỏ,
Nghinh tân, tống cựu, được an khang.

841. Hoa hải đường

Gió đông đùa nghịch ánh trăng tà.
Rồi trăng lặng lẽ khuất sau nhà.
Trời tối, lo hoa buồn, ngủ thiếp,
Giơ đèn soi sáng, sưởi cho hoa.

842. Nhớ Vương Phùng Nguyên

Mộ anh chắc cỏ mọc xanh, dày.
Buồn buồn vẫn thổi gió heo may.
Tài đức của anh đời rẻ rúng.
Mấy người, ngoài bạn, hiểu lời hay?
Lô sơn bóng ngả lên bàn viết.
Bồn thủy trào tuôn chén rượu đầy.
Dấu vết ngày xưa giờ chẳng thấy.
Muốn vui như trước, vui sao đây?

843. Sông Bắc Sơn

Bắc Sơn mùa lũ, nước tràn trề.
Nước chảy đầy đầm, ngập suối khe.
Gặp chỗ hoa rơi nhiều, nán lại.
Mải hái cỏ thơm, quên cả về.


VƯƠNG LỆNH

Tác giả: Sinh năm 1032, mất 1059, tự Phùng Nguyên, người Giang Đô, nay thuộc tỉnh Giang Tô, có tư tưởng đổi mới chính trị, tài hoa về văn chương, chỉ tiếc chết sớm. Tác phẩm: "Quảng Lăng tiên sinh văn tập"


844. Tiễn xuân

Hết nở rồi tàn, hoa tháng Ba.
Hàng ngày chim én lượn, bay qua.
Chim cuốc đêm đêm kêu lạc giọng,
Cứ tưởng rằng kêu, giữ được hoa.


TRÌNH HIỆU

Tác giả: Sinh năm 1032, mất 1985, tên chữ là Bá Đôn, người cùng thời gọi là Minh Đạo tiên sinh. Ông người Lạc Dương, nay là thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam. Trình Hiệu cùng em là Trình Di học thầy Chu Đôn Di, trở thành hai nhà lý học nổi tiếng, thường được gọi là "Hai ông Trình" đời Bắc Tống.

845. Ngẫu hứng ngày xuân

Gần trưa, mây mỏng, gió hây hây.
Thơ thẩn tìm hoa, ngắm cỏ cây.
Cái thú của ta, đời chẳng hiểu,
Cho rằng nhàn rỗi quá thành ngây.

846. Vào thu

Thanh Khê, đầu núi, suối quanh quanh.
Cả trời, cả nước sáng long lanh.
Xa cách bụi trần ba chục dặm,
Lòng như mây trắng, nhẹ thênh thênh.

847. Thơ đề ở chùa Hoài Nam

Thập phương khách đến nghỉ nơi này.
Rau tần sông Sở gió lung lay.
Sư vốn không buồn, nhìn lá rụng,
Nhưng vẫn thấy buồn khi ở đây.

848. Thơ viết lúc đi chơi ngoài thành

Ruộng đồng xanh tốt, rộng bao la.
Trời cao, xuân thắm, núi xa xa.
Tay vịn cành cây, men rặng liễu.
Lách xuống bờ khe, dạo nhởn nha.
Rượu ngon đang có, sao không uống.
Nếu không, gió thổi, rụng đài hoa.
Huống chi giữa buổi thanh minh đẹp.
Cuộc chơi đang hứng, quên về nhà.


TRƯƠNG LỖI

Tác giả: Nhà thơ thời Bắc Tống, sinh năm 1054, mất 1114, tự Văn Thế, hiệu Kha Sơn, người Sở Châu, Hoài Âm, nay thuộc thành phố Thanh Giang, Giang Tô. Ông đỗ tiến sĩ niên hiệu Hy Ninh, làm quan tới chức Thái thường Thiếu khanh, nổi tiếng liêm khiết, được Tô Đông Pha khen về tài học.

849. Ngày hè

Mùa hè, xóm nhỏ, nắng như say.
Đàn sẻ đầu thềm đã biết bay.
Trong nhà con nhện đang giăng lưới.
Ngoài vườn bầy bướm múa trên cây.
Rèm mỏng đung dưa, mời nắng dọi.
Chiếc gối kê nghiêng, lười suốt ngày.
Mái tóc từ lâu sương bạc trắng,
Muốn được vô lo sống kiếp này


LƯU HÀN

Tác giả: Chưa rõ tiểu sử, chỉ biết ông sống vào đời Tống, tự Vũ Tử, người Trường Sa, nay thuộc tỉnh Hồ Nam.

850. Lập thu

Quạ bay chấp chới, trời xanh trong.
Gió thu xua hết cái oi nồng.
Ngủ dậy, tiếng thu nghe thật lạ.
Ngoài hiên dày đặc lá ngô đồng.


TƯ MÃ QUANG

Tác giả: Sinh năm 1019, mất 1086, tự Quân Thực, người Hạ huyện, nay thuộc tỉnh Sơn Tây, là hàn lâm học sĩ thời Tống Nhân Tông. Tác phẩm: "Chiêu cổ học", "Tư Mã Quang văn chính công tập".

851. Đầu hạ, nơi đất khách

Tháng Tư, mưa tạnh, trời xanh trong.
Sừng sững núi Nam trước cửa phòng.
Cây liễu đứng im, trời lặng gió.
Chỉ hoa mai hướng mặt trời hồng.


QUÁCH UNG

Tác giả: Sinh năm 1011, mất 1077, tự Nhiêu Phu, hiệu An Lạc Tiên sinh, người Cộng Thành, nay thuộc huyện Huy, Hà Nam, sau ẩn cư ở vùng Bách Nguyên, nên còn được gọi là Bách Nguyên Tiên sinh.

852. Rượu và hoa

Hoa soi bình rượu, bóng lung linh.
Rượu có hình hoa, thật hữu tình.
Thịnh trị bốn triều từng được thấy.
Hai đời dân chúng được thanh bình.
Nếu chẳng già nua, thêm bệnh tật,
Chắc ta còn mở tiệc linh đình.
Sóng rượu, thuyền hoa, xuân thật đẹp.
Về ư, chưa uống hết rượu trong bình.


TRIỀU THUYẾT

Tác giả: Sinh năm 1059, mất 1129, tự Di Đạo, hiệu Cảnh Vu Sinh, người Tế Châu, Tự Dã, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, đỗ tiến sĩ khoảng năm đầu thời Tống Thần Tôn.

853. Thơ đề bức tranh vẽ cảnh đá cầu

Lớp lớp nguy nga gác với lầu.
Tam Lang 1) thích thú buổi chơi cầu.
Cửu Linh già rồi, Hàn Hưu 2) chết.
Can vua sẽ chẳng có ai đâu.

1) Tức Đường Minh Hoàng.
2). Hai vị tể tướng đời Đường, nổi tiếng tính tình cương trực, thường dâng sớ khuyên can vua.


TRẦN DỮ NGHĨA

Tác giả: Sinh năm 1090, mất 1138, hiệu Giản Trai, nhà thơ lớn đời Nam Tống.

854. Đi thuyền tới Tương ấp

Đôi bờ hoa rụng, đỏ lòng sông.
Màn liễu trên đê gió thổi phồng.
Nằm ngửa nhìn trời, mây tĩnh lặng,
Thấy mây và mình xuôi về đông.


NHẠC PHI

Tác giả: Sinh năm 1103, mất 1141, tự Bằng Cử, người huyện Thang Âm, là vị anh hùng dân tộc thời Nam Tống và là vị tướng có tài.

855. Đình Thúy Vị ở Trì Châu

Chiến trận quanh năm được buổi này,
Lên đình Thúy Vị ngắm trời mây.
Sơn thủy hữu tình nhìn chửa chán,
Ngựa đã giục về, trăng sau cây.


LỤC DU

Tác giả: Sinh năm 1125, mất 1210, người Sơn Âm, nhà thơ lớn yêu nước thời Nam Tống, hiện còn giữ được 9.300 bài.

856. Cảm hứng ngày xuân

Đêm đêm đốt củi sưởi mền bông.
Cơm trưa một bát đáng nghìn đồng.
Vẫn biết mình già, vô tích sự,
Nhưng thấy dân đau vẫn chạnh lòng.

857. Cảm hứng mà viết

Già rồi mà vẫn nghèo đói.
Chỉ tạm hết lo khi say.
Năm tháng làm đầu bạc trắng.
Duy lòng vẫn đỏ xưa nay.

858. Đám mây cô đơn

Hơn bốn chục năm ở núi này.
Vào triều vô bổ, lại về đây.
Không phải ngẫu nhiên buồn, tựa cửa
Ngắm núi, nhìn sông, nhàn suốt ngày.

859. Thơ viết khi đi thuyền trên hồ,
khoảng cuối hạ, đầu thu năm Ất Sửu 1)

Đêm buộc thuyền con cầu Mộng Bút 2).
Khó ngủ, hắt hiu một chấm đèn.
Cơn giận Tử Tư chưa dịu hẳn -
Sóng lớn ầm ầm ngay sát bên.

1. Tức năm 1205 theo Tây lịch.
2. Cầu này nằm phía đông bắc núi Tiêu Sơn, tỉnh Triết Giang.
3. Theo truyền thuyết, sóng sông Tiền Đường lớn là do khí tức giận của Ngũ Tử  Tư gây nên.

 860. Tưới nước trong vườn

Lúc trẻ mang gươm bình thiên hạ,
Về già xách nước tưới cho cây.
Bạn cũ không còn, luôn ốm yếu,
Cái buồn tâm sự với ai đây?

861. Mưa nhỏ, trời mát, ngủ say trong thuyền đến chiều

Sau mưa, ruồi nhặng chẳng còn bay.
Trải khăn, nằm ngủ một giấc say.
Khi tỉnh, mặt trời đang xế bóng.
Lặng lẽ thuyền đi suốt cả ngày.

862. Tết Trùng Dương

Lá đỏ ven sông, rừng ngập sương.
Hái bông cúc nhỏ, nghĩ càng thương.
Giá say một trận quên trời đất,
Vui cùng vua Sở tết Trùng Dương.

1. Vua nước Sở thích những ng ười phụ nữ có eo lưng thon nhỏ. Trong cung Tế  Yêu của  vua nhiều cô muốn được vua yêu nhịn ăn đến chết đói. Đây tác giả muốn được hưởng cảnh sung sương vô lo trong ngày tết Trùng Cửu mồng chín tháng Chín.

863. Ghi việc

Nghe nói giang sơn lấy lại rồi.
Núi sông, đất nước chẳng ngăn đôi.
Biết thế nán thêm dăm bữa nữa,
Thăm chùa Nhiêu Ích, núi Hòn Vôi.

864. Viết đêm mưa to gió lớn, mồng bốn tháng Mười Một

Đã cam xóm nhỏ cảnh nằm dài,
Còn muốn xả thân chốn Lâm Đài.
Chập chờn giấc ngủ đêm mưa gió,
Tiếng gươm, tiếng ngựa vẳng bên tai.

865. Đêm thu sắp sáng, ra cổng
hóng mát, chợt viết bài thơ này

Hoàng Hà vạn dặm chảy về đông.
Họa Sơn nghìn thước vút lên không.
Trong vùng giặc chiếm, dân kêu khóc,
Chờ vua đến cứu, mỏi mòn trông.

866. Dặn con

Đành rằng thế cả sau khi chết.
Chỉ tiếc chín châu chưa lấy hết.
Khi nào vua lấy được Trung Nguyên,
Cúng ta, hãy báo cho ta biết.

867. Vườn Thẩm 1)
Bài một

Chênh chếch mặt trời ngả phía tây.
Vườn Thẩm bây giờ khác trước đây.
Buồn bã dưới cầu dòng nước chảy.
Người đẹp từng soi bóng nước này.

868. Vườn Thẩm
Bài hai

Bốn mươi năm chẵn đã trôi qua.
Không thấy tơ bay bụi liễu già.
Sau chết thân vùi chân núi Cối,
Vẫn xin nhỏ lệ mối tình ta.

1. Bài này tác giả viết để tỏ lòng thương nhớ nàng Đường Uyển, người vợ trước của ông. Hai người lấy nhau rất tâm đắc, nhưng do mẹ chồng ghét bỏ nên nàng phải ra đi. Một hôm đến vườn Thẩm, ngẫu nhiên ông lại gặp nàng, lúc này đã lấy chồng khác. Hai người nhìn nhau đau khổ. Nàng trở về, nghĩ ngợi nhiều sinh ốm rồi mất.  Năm 1199, Lục Du đã 75 tuổi, trở lại vườn Thẩm và viết hai bài tứ tuyệt này.

869. Đi thuyền trên sông nhỏ

Khói vương buồm dệt cói.
Mưa lên mui cỏ dày.
Xin lửa, thuyền bên cạnh.
Mua cá, chợ gần đây.
Hết ghềnh ròi lại thác.
Khách buồn, tỉnh lại say.
Thương nhà thuyền vất vả,
Chèo ngược gió suốt ngày.

870. Lầu bên sông
 
Mưa tẩy sạch chướng khí.
Nhàn rỗi, đứng trên lầu.
Nước chảy cuốn củi mục.
Mặt trời lặn đồng sâu.
Làng rộn tiếng giã giấy
Trong ngõ, trẻ dắt trâu.
Hủ nho lo việc nước,
Nhưng chỉ biết gãi đầu.

871. Đội mưa lên đài Nghĩ Nghiễn
xem nước sông dâng

Mưa dội lên nghìn núi,
Nước ngập hết muôn nhà.
Mây dày, đen như mực,
Sóng dồn dập gần xa.
Một cánh thuyền nhỏ bé
Giữa trời nước bao la.
Nhớ cuộc chơi ngày trước,
Say, vượt sóng Tam Ba.

872. Đầu xuân

Mấy tháng liền ốm yếu.
Vừa năm mới đã đau.
Dậu thưa, cây cỏ bám.
Vách đổ, rêu xanh màu.
Tráng sĩ chờ giết gặc.
Cứu nước, sá gì đâu.
Ta đâu phải nhi nữ
Mà ngâm khúc “Bạc đầu”?

1. Khúc nhạc phủ xưa, nội dung mỉa mai người không chung thủy với tình yêu. Ở đây tác giả muốn khẳng định lòng yêu nước của mình.

873. Cảm hứng vụn vặt

Buồn, uống buồn thêm mãi.
Mưa tạnh, cây ít hoa.
Bàn cờ quân rời rạc.
Tiếng sáo vọng sau nhà.
“Dời núi” 1), sức chưa hết.
“Ra biển” 2) , lời thiết tha.
Ai hiểu lòng tráng sĩ,
Gõ trúc, buồn xót xa.

1. Ngu Công ở Bắc Sơn quyết tâm dời núi Thái Hàng và Vương Ốc chắn trước  nhà mình.
2. Lỗ Trọng Yên ở nước Tề không chịu tôn nước Tần lền đế hiệu, nói:“Ta thà ra biển mà chết chứ không tôn vua Tần làm hoàng đế!”

874. Mong xuân

Xuân về theo luật định.
Ngày đẹp, trời xanh cao.
Nước long lanh dưới nắng.
Liễu xanh, gió thì thào.
Lo việc đời, ứa lệ.
Chí giết giặc còn cao.
Lên gác còn phải đỡ,
Nhưng vẫn hát nghêu ngao.

875. Gió sương

Tháng Mười, gió lạnh rít ngoài hiên.
Áo mỏng, lót bông, chửa có tiền.
Trời rét, khách ngồi không có đệm.
Thiếu ăn, vay gạo của chùa bên.
Thân già, chua xót, đêm ca cẩm.
Nhà nghèo, mùa mất, đó triền miên.
Làm trai mà thế không là phúc?
Nước mắt trào dâng, cười trước đèn.

876. Hồ Nam

Tháng Hai, hoa nở đẹp, chim bay.
Đứng ngắm một ông yếu, lại gầy.
Tóc bạc lơ thơ, buồn ứa lệ.
Muôn khoảnh hồ xanh, chuyện tháng ngày.
Đắp đê đâu chỉ dân no ấm,
Mà nước mạnh hơn nhờ việc này.
Những kẻ tầm thường không hiểu được,
Chỉ lo hương lễ để cầu may.

877. Bài hát mừng mưa

Không mưa ra châu, ra ngọc.
Tháng Sáu trời mưa ra thóc.
Mười năm hạn lụt buồn lo,
Dân phải chặt dâu, bán bò.
Năm ngoái no nhiều, đói ít.
Năm nay chắc có rượu thịt.
Được no, người ta chạnh lòng
Nhớ người chết đói ngoài đồng.

878. Khi hết gạo, thiếu củi, đùa viết bài này

Làm ruộng, làm quan đều nhỡ nhàng.
Sách nhiều, nhà hẹp, trống toang hoang.
Chẳng sao canh nhạt, không dầu mỡ.
Bếp củi chưa mua, nhóm lá bàng.
Thân trai mà đói, do mình cả.
Tuy nghèo nhưng dáng vẫn hiên ngang.
Chưa phải rình chờ ăn chực cỗ,
Về nhà khoe vợ gặp người sang 1).

1. Sách Mạnh Tử viết: Có một người nước Tề hàng ngày đi ăn cỗ thừa ở các đám tang, về nhà khoe với vợ được người giàu sang chiêu đãi. Sau vợ rình bắt quả tang và chê trách không biết giữ liêm sĩ.

879. Lên đài Nghĩ Nghiễn

Mờ mịt đài cao chắn góc thành.
Lên đài, chống gậy đứng nhìn quanh.
Bao la bốn phía màu xuân mới.
Mười năm rũ sạch bụi công danh.
Trầm tư núi đứng như hiền triết.
Quanh co sông chảy thật yên lành.
Không lo toan tính, lòng thanh thản.
Muốn bạn cùng chim giữa lá cành.

880. Vinh hoa mai

Hoa mai nở, không chủ
Bên cầu gãy, sát đường.
Hoàng hôn, đã buồn sẵn,
Lại còn thêm gió sương.
Mặc hoa khác ghen ghét,
Mai vô tư, dễ thương.
Khi rụng, vùi trong đất,
Còn giữ được mùi hương.

881. Theo điệu "Giá cô thiên"

Ruộng dâu xanh tốt bãi phù sa.
Tằm nở đầy nong, đợi ở nhà.
Gò cao cỏ mượt, con bê rống.
Rừng lạnh, quạ bay giữa ráng tà.
Nhà ai bán rượu, cờ xanh thẫm.
Con đường chênh chếch, núi gần xa.
Trong thành đào mận buồn mưa gió.
Xuân đến đầu khe, cỏ nở hoa.

882. Đêm đậu thuyền ở xóm ven sông

Cung tên mang mãi, sệ bên hông.
Tiếc bia chưa dựng để ghi công.
Ngày xưa lão tướng băng sa mạc,
Nay sao lớp trẻ khóc, nao lòng?
Liều chết, chỉ mong đền nợ nước,
Dẫu giờ tóc bạc, tấm lưng còng.
Giang hồ thuở trước, đêm thuyền đỗ,
Nhớ nằm nghe tiếng nhạn ngoài sông.

883. Đi chơi xóm núi ở phía tây

Đừng tưởng nhà nông rượu chát cay.
Được mùa có thịt đãi khách say.
Liễu rậm, hoa thưa, khu xóm nhỏ.
Đường đi lắt léo núi và cây.
Quần áo đơn sơ, theo lễ cũ.
Kèn trống mừng xuân rộn suốt ngày.
Từ nay rảnh rỗi, khi trăng sáng,
Chống gậy một mình lại đến đây.

884. Thơ viết ở Lâm An, lúc mưa xuân mới tạnh

Tình đời thật mỏng những năm qua.
Cưỡi ngựa đến đây, ai xúi ta?
Đêm lắng mưa rơi trên gác nhỏ.
Sáng dậy nghe ai rao bán hoa.
Rỗi việc, vu vơ dăm chữ viết.
Bên song, trời tạnh, tự pha trà.
Áo trắng đừng lo dây cát bụi.
Thanh minh còn kịp trở về nhà.

885. Đi đường, gặp lão nông,
trò chuyện, về nhà làm bài thơ này

Mấy năm ốm yếu, nghỉ, nằm không.
Chỉ gặp tiều phu với mục đồng.
Lẽ phải tìm trong trang sách cổ.
Lời ngay từ miệng những già nông:
"Riêng lo thế giặc mà sa lệ,
Nghĩ chuyện đền ơn, những ước mong!"
Chưa hưởng lộc vua, mà họ vậy,
Xấu hổ, ta nghe, thẹn với lòng.

886. Tre mới

Gai nhọn, chăng rào, giúp chở che.
Bên ao soi bóng những trưa hè,
Không biết lúc nào giờ chính ngọ.
Bóng râm mát rượi, tưởng thu về.
Măng mọc ban đêm, nghe tách vỏ.
Ban ngày trổ ngọn, lá xum xuê.
Sau này rỗi việc, về đây sống,
Kê gối ta nằm dưới bóng tre.

TẢ VĨ

Chưa rõ tiểu sử

887. Ngắm cảnh chiều xuân

Góc nhà gió thổi, khói như mây.
Hoa nở đung đưa khóm liễu gầy.
Trong ánh hoàng hôn mờ ảo ấy,
Chim én lại về, chấp chới bay.


NGÔ ĐÀO

Chưa rõ tiểu sử

888. Tuyệt cú

Khách chưa thấy rét, áo chưa thay.
Mơ đã chua dần, hoa lá bay.
Rồi chợt một đêm không tiếng ếch,
Gió thổi se se, rét mấy ngày.


LƯU TỬ VỰNG

Chưa rõ tiểu sử

889. Cảnh trên sông

Triều dâng sóng lớn, gió bâng quơ.
Hàng cây đứng lặng giữa khói mờ.
Ba ngày gió lạnh, đò không khách.
Một dãy thuyền con xếp cạnh bờ.


DƯƠNG VẠN LÝ

Tác giả: Sinh năm 1124, mất 1206, Hiệu Thành Trai, cùng Lục du, Phạm Thành Đại và Lưu Mậu được người đời gọi là "Bốn nhà thơ lớn thời Nam Tống".

890. Ao nhỏ

Không nỡ gây ồn, nước đứng yên.
Hồ lặng cây soi, giống cõi thiền.
Sen non vừa nhú sừng xanh biếc,
Chuồn chuồn bay đến đậu lên trên.

891. Tiếc mùa xuân

Xuân này những tưởng hết lo âu,
Thì ra vẫn thế, vẫn buồn rầu.
Xuân đến mà hoa không thiết ngắm -
Chắc có việc buồn hoặc ốm đau.

892. Ngủ nhà Từ Công ở Chợ Mới

Hoa rụng lối mòn bên dậu tre.
Lá mới xanh mầm, chưa đủ che.
Đám trẻ thi nhau đùa bắt bướm.
Bướm sang nhà cạnh, phải quay về.

893. Buổi sớm ra chùa Tĩnh Tư tiễn Lâm Tử Phương

Hồ Tây tháng Sáu rộng mênh mông.
Cảnh sắc mùa này khác thu đông.
Lá sen xanh biếc như trời biếc.
Hoa sen dưới nắng lại thêm hồng.

894. Ngày đầu mùa hè, ngủ dậy

Mai chua đến nhăn mặt.
Chuối xanh chạm vách nhà.
Trưa ngủ dậy, buồn chán,
Ngồi xem trẻ chơi hoa.

895. Bài ca cấy lúa

Chồng tung nắm mạ, vợ bắt ngay.
Thằng bé làm cỏ, thằng lớn cày.
Mưa ướt đến lưng, mưa rả rích.
Áo tơi, nón lá gió tung bay.
Gọi chồng tạm nghỉ ăn cơm sáng,
Mà chồng mải miết cấy luôn tay.
Mạ nơi chưa bén, nơi chưa cấy.
Thêm lũ ngỗng con kêu suốt ngày.


HÀN CÂU

Chưa rõ tiểu sử

896. Đã lâu không được tin, viết gửi Á Khanh

Chàng ở lầu hoa trên bến sông.
Thiếp ở dưới này, phía biển đông.
Triều dâng đến lầu, không dâng nữa.
Lệ thiếp nước hòa, chàng biết không?


TRIỆU SƯ TÚ

Chưa rõ tiểu sử

897. Có hẹn

Xuân sớm mưa phùn rơi, cứ rơi.
Quá hẹn mà sao chẳng thấy người.
Quân cờ gõ nhảm, hoa đèn rụng.
Ếch nhái ngoài ao thật lắm lời.


UÔNG NGUYÊN LƯỢNG

Chưa rõ tiểu sử.

898. Hoài Điền

Trời xanh nhàn nhạt, trăng mờ sương.
Hai phía Hoài Điền là chiến trường.
Cung nữ trong cung, không ngủ được,
Ngồi buồn nghe điệu "Khốc Tương Dương".


MỤC ĐỒNG

Chưa rõ tiểu sử

899. Trả lời Chung Ngược Ông

Cỏ xanh trải rộng đến chân trời.
Gió thổi sáo diều, lòng thảnh thơi.
Ăn no, áo rách không thèm cởi.
Đêm nằm ễnh bụng ngắm trăng chơi.


CHU HY

Tác giả: Sinh năm 1130, mất 1200, tự Nguyên Hối, là nhà luân lý họ nổi tiếng đời Tống, người chỉnh lý cuốn Tứ Thư của Khổng Tử.

900. Cảm nghĩ khi đọc sách

Đầm vuông nửa mẫu tựa gương soi,
Soi nửa vuông mây, nửa sắc trời.
Thử hỏi sao đầm trong đến vậy?
Vì thác đầu nguồn nước vẫn rơi.

901. Hoa lựu

Tháng Năm hoa lựu đỏ trên cành.
Một vài chấm nụ, bướm bay quanh.
Chỉ tiếc nơi này không khách ngắm,
Để buồn, hoa rụng đỏ rêu xanh.

902. Chơi thuyền

Đêm qua bất chợt nước sông lên.
Thuyền lớn tự trôi như mũi tên.
Chẳng bù hôm trước phu vất vả,
Tốn sức bao nhiêu để kéo thuyền.

903. Ngày xuân

Bến Tứ, chơi xuân buổi đẹp trời.
Trời rộng, đất xanh, cây tốt tươi.
Gió xuân lặng lẽ mang xuân đến.
Muốn biết, trong lòng phải thảnh thơi.


NGU TỰ LƯƠNG

Tác giả: Sinh năm 1180, không rõ năm mất, có làm quan một thời gian.

904. Sớm xuân ở Hành Khê Đường

Mạ gieo hôm trước đã xanh màu.
Mưa phùn khói trắng quyện vào nhau.
Xung quanh toàn ruộng, ba nghìn khoảnh.
Đàn cò không biết đậu vào đâu.


DIỆP THÁI

Chưa rõ tiểu sử

905. Cảnh chiều xuân

Chim bay líu ríu tận thư phòng.
Gió thổi, hoa đào bám bút lông.
Rỗi, ngồi bên cửa xem Chu Dịch.
Không biết xuân rồi, hay vẫn đông.


THÁI SÁC

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết người Tấn Giang, nay là Phúc Kiến, tự Tử Chính, làm quan dưới thời Tống Thần Tông, do dâng sớ can vua sửa đổi triều chính nên bị phái làm quan nơi xa và chết ở đó.

906. Đình trên mặt nước sông Thương Lang

Bình phong bằng giấy, giường bằng tre.
Mỏi tay, sách tuột giữa trưa hè,
Làm một giấc dài, khoan khoái dậy.
Tiếng sáo thuyền chài thợt thoáng nghe.


ÔNG QUYỂN

Chưa rõ tiểu sử.

907.  Tháng Tư, ở làng quê

Màu xanh đầy núi, nước đầy sông.
Cuốc kêu giục dã việc nhà nông.
Đang giữa tháng Tư, ai cũng bận.
Chưa hết tằm dâu, đã xuống đồng.


ĐÁI PHỤC CỔ

Tác giả: Hiệu Thạch Bình, sinh năm 1167, mất 1248, nhà thơ lớn đời Nam Tống với nhiều tác phẩm mang đậm tinh thần yêu nước và về cuộc sống khổ cực của người nông dân.

908. Thôn Hoài sau loạn lạc

Vắng chủ cây đào vẫn nở hoa.
Cánh quạ làm đen vệt ráng tà.
Mấy bức tường xiêu quanh giếng cũ.
Nhà người thì có, thiếu nhà ta.

909. Ngủ qua đêm ở nhà một nông dân

Dép cỏ, mũ rơm đi đó đây.
Một năm mà áo vẫn chưa thay.
Bất chợt trời mưa bên núi vắng,
Đành xin trú tạm mái tranh này.
Ếch nhái kêu ran trong giấc ngủ.
Mơ thành con bướm nhởn nhơ bay 1).
Thư nhà mười bức, may tới một.
Trời bắc, trời nam cánh nhạn gầy.

1. Trang Chu thời Xuân Thu năm mơ mình hóa thành bướm.


910. Đêm trăng trên thuyền

Đầy thuyền trăng sáng, nước xanh trong.
Sóng im, khí lạnh bốc lên không.
Thi hứng dập dềnh theo bóng nước.
Theo mái chèo bay, hồn bập bồng.
Sao sớm lặng soi dòng nước lạnh.
Nhạn thương hoa héo, khóc rừng đông.
Thấp thoáng lửa chài bên bến cũ.
Cầu khuya, sương ướt lá ngô đông.


LƯ MAI PHA

Chưa rõ tiểu sử.

911. Hoa mai và tuyết

Mai tuyết tranh nhau trổ sắc tài.
Thi nhân đành chịu, biết bênh ai?
Về hương, có lẽ mai hơn tuyết,
Nhưng về màu trắng, tuyết hơn mai.


ĐỖ LAI

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Tử Dã, người Đình Giang, nay thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông là bạn học cùng thầy với Vương An Thạch đời Tống.

912. Đêm lạnh

Có khách ban đêm, lạnh, uống trà.
Lò vừa mới nhóm, đóm như hoa.
Trước cửa trăng treo, không khác lạ.
Chỉ khác hoa mai nở trước nhà.


BẠCH NGỌC THIỀM

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất,còn có tên khác là Tát Trường Canh, tự Như Hối, một đạo sĩ thời Nam Tống, người Mãn Thanh nay thuộc tỉnh Phúc Kiến. Ngoài thơ văn, ông còn giỏi về vẽ tranh mai trúc. Tác phẩm: "Hải Quỳnh tập".

913. Xuân sớm

Hoa mai bất chợt nở sau nhà.
Chỗ nhiều, chỗ ít tuyết sương pha.
Chỗ đậm như trăng, thưa tựa khói.
Sắc nước, sắc trời quyện sắc hoa.


TẦN QUÁN

Tác giả: Sinh năm 1049, mất 1100, nổi tiếng về sở trường viết từ. Được Tô Thức tiến cử, ông ra làm quan, sau bị cách chức đầy đi xa và chết ở Đằng Châu, nay thuộc tỉnh Quảng Tây.

914. Theo điệu "Đạp sa hành"

Lầu gác sương che, trăng bến sông.
Tìm mãi nguồn đào, mỏi mắt trông.
Xuân lạnh, quán côi, buồn vô hạn,
Lại thêm tiếng cuốc tái tê lòng.
Cá mang thư lụa 1), hoa mai trạm, 2)
Oán giận, buồn đau lại chất chồng.
Thâm sông quấn quít bên Thâm núi,
Tiêu Tương sao mãi cứ chảy về đông.

1. Thơ cổ có câu: "Khách tòng viễn phương lai. Dĩ ngã song lý ngư. Hô nhi phanh lý ngư. Trung hữu xích tố thư". Nghĩa là: Khách từ nơi xa đến. Cho ta một đôi cá chép. Gọi trẻ đem mổ cá ra. Thấy trong bụng cá có bức thư bằng lụa.
2. Thời Ngũ Đại, Lục Khải và Phạm Diệp thân nhau. Lục Khải gặp người đưa thư từ Giang Nam lên miền bắc, bèn gửi cho Phạm Diệp một cành hoa mai.


LÝ CƯƠNG

Tác giả: Sinh năm 1083, mất 1140, từng giữ chức tể tướng triều vua Cao Tông đời Nam Tống. Ông chủ trương thay đổi chính sự, quyết chống giặc Kim, bị nịnh thần chèn ép, sau bất đắc chí mà chết.

915. Con trâu ốm.

Từng cày vạn mẫu, giúp nhà nông.
Nay già, ốm yếu chẳng ai trông.
Chỉ muốn mọi người no đủ cả.
Có oan tí chút cũng cam lòng.


LÝ THANH CHIẾU

Tác giả: Sinh năm 1084, mất 1151, nhà thơ nữ có tài, xuất thân quyền quí,  thời kỳ đầu xa thực tế, thơ tao nhã, bay bướm nhưng tư tưởng nghèo nàm. Về sau, khi nhà Tống chạy xuống phía Nam, sống trong cảnh lưu lạc, bà có một số bài mang tính hiện thức cao.

916. Tuyệt cú

Sống làm người hào kiệt.
Chết thành ma anh hùng.
Vẫn chưa quên Hạng Vũ.
Không chịu về Giang Đông.


TRƯƠNG THỨC

Tác giả: Nhà thơ đời Tống, sinh năm 1133, mất 1180, tự Kính Phu, hiệu Nam Hiên, người Cẩm Trúc, nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên.

917. Ngày xuân, chợt hứng thành thơ

Năm cũ đã qua, trời ấm dần.
Cây cỏ hồi sinh, hửng sắc xuân.
Tự nhiên thi hứng dâng dào dạt.
Gió vờn mặt nước, sóng lăn tăn.


VƯƠNG KỲ

Tác giả: Không rõ tiểu sử, chỉ biết tên chữ là Lục Kỳ, người đời Tống.


918. Chiều xuân thăm vườn nhỏ

Hoa mai phấn rụng, héo trên cành.
Hải đường vẫn đỏ, sắc long lanh.
Khi nở trà mi, hoa khác rụng.
Dưới cây thưa thớt đám rêu xanh.


LƯU KHẮC TRANG

Tác giả: Sinh năm 1187 mất 1269, tự Thế Phụ, hiệu Hậu Thôn, người Bồ Điền, nay thuộc tỉnh Phúc Kiến, con nhà dòng dõi, có làm quan, nhà thơ nổi tiếng thời Tống. Tác phẩm: "Hậu Thôn tiên sinh đại toàn tập".

919. Thoi oanh

Trong bờ liễu biếc có đôi oanh
Bay đi bay lại tựa thoi nhanh.
Lạc Dương vào xuân, như tranh gấm.
Không biết bao lâu mới dệt thành.

920. Cảnh mùa đông

Ban mai, tỉnh dậy, nắng bên song.
Tiếng thu nghe rõ phía hàng rừng thông.
Sai trẻ quấy siêu pha nước uống,
Dặn người dọn gác, đón mùa đông.
Rượu mới vừa hâm, bàn đã dọn.
Thịt rán ba ba tỏa khắp phòng.
Cúc dại ngoài vườn trông thật đẹp.
Cảnh thế, người sao chẳng ấm lòng?


CHU TẤT ĐẠI

Tác giả: Sinh năm 1126 mất 1204), tự Tử Sung, người Lư Lăng, nay thuộc tỉnh Giang Tây, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Tả Thừa tướng. Tác phẩm: "Ngọc Đường loại cảo", "Ngọc Đường tạp ký" và "Tĩnh trai tập".

921. Được vua gọi vào chầu

Quạ chiều, ngọn liễu phía xa xa.
Vua gọi vào cung, cho uống trà.
Trở lại Hàn Lâm, không ngủ được.
Trăng non đầu tháng vướng cành hoa.


LÔI CHẤN

Tác giả: Không rõ thân thế, sự nghiệp, chỉ biết là nhà thơ đời Tống.

922. Chiều quê

Ao đầy cỏ mọc, nước đầy khe.
Mặt trời gác núi, gió se se.
Vắt vẻo lưng trâu về xóm nhỏ,
Lũ trẻ vui đùa thổi sáo tre.


HỒNG TƯ QUỸ

Tác giả: Sinh năm 1176, mất 1235, tự Thuấn Du, hiệu Bình Trai, người Vu Thế, nay thuộc huyện Lâm An, Chiết Giang, làm quan đến Hàn lâm Học sĩ, thuộc trường phái thơ Giang Tây.

923. Thơ viết trong phiên trực ở viện Hàn Lâm

Cửa Cấm cài then, không bóng người.
Vua ban giấy sắc, mực còn tươi.
Trống điểm canh năm, đêm sắp hết.
Tử vi, hoa trắng một góc trời.


TĂNG CHÍ NAM

Tác giả: Nhà sư thời Nam Tống. Năm sinh, năm mất chưa rõ, thơ ông tao nhã, tinh tế, nhất là  thể  tuyệt cú.

924. Tuyệt cú

Thuyền con buộc tạm gốc cây già.
Chống gậy một mình ra bến xa.
Không lạnh chút nào cơn gió liễu.
Áo ngoài thấm ướt bởi mưa hoa.


CHU THỤC CHÂN

Tác giả: Sinh năm 1170, năm mất không rõ. Bà là nhà thơ, nhà từ nổi tiếng thời Nam Tống, ngang danh với L ý Thanh Chiếu.

925. Đêm rằm tháng Giêng

Đèn hoa nhấp nháy tựa sao đêm.
Kèn trống thi nhau rộn trước thềm.
Cảnh vui đúng lúc đang sầu muộn.
Chuyện cũ nằm mơ, lòng yếu mềm.
Những muốn cùng người vui chốc lát,
Dẫu trăng mờ tối, vẫn nâng rèm.
Mải ngắm đèn hoa, quên uống rượu -
Sang năm sợ chẳng có mà xem.


LƯU QUÝ TÔN

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, chỉ biết tự Cảnh Văn, người Tường Phủ, nay là thành phố Khai Phong tỉnh Hà Nam, từng giữ chức quan nhỏ thời Thần Tông nhà Tống. Ông có kiến thức uyên bác, giỏi thơ văn. Sau khi chết nhà chỉ toàn sách.

926. Thơ đề trên vách quán rượu Nhiêu Châu

Líu lo chim yến khóm đào tươi.
Làm tỉnh giấc mơ đẹp, lạ đời.
Đem kể khách nghe, ai cũng diễu.
Cầm gậy, bực mình, lên núi chơi.


ĐÁI MẪN

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, người Đài Châu, Hoàng Nham, nay thuộc tỉnh Chiết Giang; tự Mẫn Tài, hiệu Đông Cao tử, thi đỗ nhưng không ra làm quan, là cha của nhà thơ nổi tiếng đời Nam Tống là Đái Phục Cổ.

927. Đầu hạ, chơi vườn họ Trương

Ao nhỏ vịt bơi, chỗ nước nông.
Đang mùa mai chín, trời xanh trong.
Sấu xanh mà hái trơ còn lá.
Vườn tây có rượu, say vườn đông.


LÂM THĂNG

Tác giả: Sinh khoảng năm 1180, không rõ năm mất và tiểu sử.


928. Thơ đề nhà trạm Lâm An

Núi xanh tiếp núi, lầu tiếp lầu.
Tây Hồ múa hát chắc còn lâu.
Gió xuân ấm áp làm say khách,
Cứ nghĩ Hàng Châu là Biện Châu. 1)

1. Bài này tác giả chỉ trích vua tôi nhà Nam Tống sau khi chạy về Hàng Châu, chỉ lo xây lâu đài, ca hát, không nghĩ tới việc lấy lại đất đã mất. Biện Châu là kinh đô Bắc Tống bị quân Kim chiếm.


VĂN THIÊN TƯỜNG

Tác giả: Sinh năm 1236, mất 1282, hiệu Văn Sơn, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức hữu thừa tướng. Bị quân Nguyên bắt, giam ba năm không chịu đầu hàng, cuối cùng bị giết. Thơ ông mang chất bi hùng kế thừa truyền thống của Đỗ Phủ.

929. Viết trên sông Dương Tử

Mấy ngày chơi biển bắc,
Giờ lại về phía nam.
Xuôi theo dòng Dương Tử,
Bị hút như nam châm.

930. Trạm Kim Lăng 1)

Nhà cỏ đơn sơ giữa nắng tà.
Đám mây cô quạnh phía đằng xa.
Non sông, phong cảnh nguyên như cũ.
Khác xưa một nửa - người và nhà.
Lầu gác hoang tàn, không én lượn.
Hoa lau già cỗi, giống đầu ta.
Xa quê, ta nguyện làm chim cuốc,
Suốt đời khóc nhớ những ngày qua.

1. Tháng Ba năm 1297 Văn Thiên Tường bị giải đi Yên Kinh. Tháng Bảy, khi qua Kim Lăng ở nhà trạm, ông viết bài thơ này.

 

HOA NHẠC

Tác giả: Sinh khoảng 1225, nổi tiếng là người khí khái, bị bọn gian thần nhiều lần cầm tù và giết hại.

931. Nhà nông

Tiếng gà buổi sáng gọi nhà nông
Sửa soạn thức ăn để xuống đồng.
Định đánh thức chồng, còn sợ sớm,
Hé liếp nhìn trời ở phía đông.


DIỆP THIỆU ÔNG

Tác giả: Không rõ sinh thời ông làm gì, chỉ biết có thể ông sinh vào năm 1224.

932. Tới vườn chơi, không vào được

Đến thăm mấy bận cổng then cài.
Còn hằn rêu lạnh dấu chân ai.
Không thể giam xuân sau cánh cổng
Một bông hạnh đỏ ló ra ngoài.


TỪ NGUYÊN KIỆT

Tác giả: Sinh năm 1196, mất 1245, tự Bá Nhân, người Thượng Nghiêu, nay là Giang Tây. Ông làm quan đến Công bộ Thị lang. Thơ đằm thắm, trong sáng và nhiều chất trữ tình.

933. Trên hồ

Oanh hót trên cây, hoa nở hồng.
Cánh cò chới với, nước mênh mông.
Mây quang, gió lặng, người cao hứng.
Chiều buông, tiếng sáo rộn thinh không.


TÀO BÌNH

Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, tự Tây Sĩ, hiệu Đông Xuyên, người tổng Thụy An, nay là Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang.

934. Chiều xuân

Ngoài vườn hoa rụng, chẳng ai hay.
Xanh đến chân trời, xanh cỏ cây.
Núi rừng yên tĩnh chim oanh hót.
Ếch nhái râm ran ngoài bãi lầy.


CAO CHỬ

Tác giả: Năm sinh, năm mất không rõ, chỉ biết ông sống đời Nam Tống, tự Cửu Vạn, hiệu Cúc Kha. Ông ở ẩn không ra làm quan và là thi sĩ thuộc phái giang hồ.

935. Tiết Thanh Minh

Nhỏ to, nhiều mộ hai đầu núi.
Tảo mộ người đi cũng rất đông.
Tàn tro, vàng mã bay như bướm.
Tiếng khóc tổ tiên khá mủi lòng.
Trời tối, cáo chui vào mộ ngủ.
Đêm cô gái ngắm trước gương lồng.
Ở đời có rượu thì nên uống.
Sau chết dưới mồ uống được không?


VƯƠNG TRUNG

Tác giả: Nhà thơ đời Tống, thân thế, sự nghiệp chưa rõ.

936. Cơn binh lửa

Loạn lạc chưa yên, dẫu bất bình.
Đầu hai thứ tóc, chịu làm thinh.
Long đong phiêu dạt như Vương Xán. 1)
Giống Đỗ Lăng xưa một tấm tình. 2)
Gửi nửa vành trăng lên cho Ô Thước. 3)
Đứt ruột một người nghe Quyến Linh. 4)
Giá ở Trung Sơn, nằm uống rượu,
Say đến tận khi nước thái bình!

1. Vương Xán tự Trọng Tuyên, thời Đông Hán, giỏi mưu lược, thơ văn, long đong trong việc tìm minh chủ để phụng sự.
2. Tức Đỗ Phủ, trong thơ thường đề cập đến nỗi bất hạnh của dân chúng vì chiến tranh.
3. Tên một loài chim rừng, thường kêu vào ban đêm, nghe rất thương tâm.
4. Ô Thước - mượn ý câu thơ của Tào Tháo: Nguyệt minh tinh hy. Ô Thước nam phi, nghĩa là: Trăng sáng sao thưa. Quạ bay về nam. Ý nói loan to, dân chúng phải khổ sở.


TẠ PHƯƠNG ĐẮC

Tác giả: Sinh năm 1226, mất 1289, tự Quản Trực, hiệu Diệp Sơn, người Qua Dương, nay là Giang Tây, từng làm quan. Khi nhà Tống bị diệt, ông đổi tên họ, ẩn cư ở Phúc Kiến. Nhà Nguyên nhiều lần dùng uy lực buộc ra làm quan, ông không chịu, nhịn ăn mà chết.

937. Khúc ngâm người đàn bà nuôi tằm

Cuốc kêu da diết bốn canh thâu.
Nhỏm dậy, sợ tằm đang đói dâu.
Đã khuya, trăng khuất sau bờ liễu,
Mải vui, người ngọc hát trên lầu.

938. Mừng hoa đào ở Toàn Am

May có Đào Nguyên để lánh Tần.
Lần nữa hoa đào, lần nữa xuân.
Không sợ hoa rơi, trôi theo nước.
Chỉ sợ có người đến rửa chân.


LÂM CHẨN
 
Tác giả: Chưa rõ tiểu sử, chỉ biết tự là Đan Sơn.

939. Đình Lãnh Tuyền 1)

Mạch nước trong xanh như mạch thơ.
Quanh năm mát lạnh, vỗ hai bờ.
Ra đến Tây Hồ, nước đã khác,
Không còn nhí nhảnh cái ngây thơ.

1. Đình được xây  ở Tây Hồ, Hàng Châu, trên núi Phi Lai. Phía dưới có suối Lãnh Tuyền, suối lạnh.


KHUYẾT DANH

940. Thơ vặt

Tháng Ba, hàn thực, 1) cỏ xanh tươi.
Gió lộng trên đê, liễu rối bời.
Có quê mà chẳng về quê được.
Xin cuốc đừng kêu, não ruột người.

(1) Hµn thùc lµ tiÕt sau ®«ng chÝ 105 ngµy, tøc mång 3 th¸ng 3 ¢m lÞch, ngµy TÕt ¨n ®å l¹nh. ViÖt Nam ta gäi tÕt b¸nh tr«i b¸nh chay.

941. Thơ vặt

Chiều, sông Vô Địch đượm buồn đau.
Bâng khuâng chợt nhớ Hách Liên lầu.
Đường tới Hàm Quan xa vạn dặm.
Gió thổi, qua đêm bạc trắng đầu.

942. Bài hát mùa xuân

Hoa xuân thật dễ thương.
Chim kêu buồn bên đường.
Gió thổi tung xiêm áo.
Khiến lòng người vấn vương.

943. Nhổ cỏ bồ

Líu ríu dưới bóng cây,
Chàng cùng thiếp suốt ngày
Nhổ cỏ bồ làm gối,
Nhổ mãi không đầy tay.


  ____________

 
< Trước   Tiếp >
blog comments powered by Disqus