|
ĐỖ PHỦ Tác giả: Sinh năm 712, mất 770, tự Tử Mỹ, quê Tương Dương, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, một trong những nhà thơ vĩ đại nhất đời Đường. Ông thi tiến sĩ không đỗ, một lần nhân đến Trường An, dâng lên vua Huyền Tông ba bài phú. Vua thấy hay, cho làm Đãi chế tập hiền viên. Đến đời Đường Túc Tông, ông giữ chức Hữu tập di, rồi Hoa châu tư công. Gặp lúc loạn lớn, ông bỏ quan về đất lạ Tần Châu hái rau kiếm củi lần hồi rồi lưu lạc tới Kiếm Nam. Nghiêm Vũ xin cho ông làm Tham mưu kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Đến đời Đại Lịch, ông tới Lỗi Dương, một đêm quá say rồi mất, thọ 59 tuổi. Tác phẩm: Còn lưu lại được 16 quyển thơ với hơn 1400 bài. 289. Cảm tác Dở, hay tự mình biết. Nghiệp văn, nghiệp cả đời. Mỗi người một cách viết, Kẻo đời sau chê cười. 290. Tuyệt cú Trên nền nước biếc chim càng trắng. Hoa đỏ hơn nhiều nhờ lá cây. Xuân này có lẽ không về được, Vậy biết xuân nào về được đây? 291. Chợt hứng Đường trắng hoa dương, những lá sen Tròn xanh trên suối như đồng tiền. Mầm măng khẽ nhú không ai thấy. Trên cát vịt trời đang ngủ yên.. 292. Chợt hứng Những muốn tới nơi suối khởi đầu. Một mình chống gậy giữa Phương Châu. Cuồng điên gió thổi, oằn tơ liễu. Nước cuốn, hoa đào trôi tới đâu? 293. Tặng Lý Bạch Thu về nhớ cảnh ngắm trăng lên. Thẹn với Cát Hồng vì thuốc tiên. 1) Ngang tàng, bướng bỉnh, kiêu, trọng nghĩa, Ngày nào cũng uống, hát như điên 2). (1) C¸t Hång tù lµ Bao Ph¸c Tö, chuyªn häc phÐp tiªn, kÓ c¶ viÖc ®Ó chÕ ra thÇn dîc. (2) Lý B¹ch næi tiÕng hay uèng rîu, tÝnh khÝ hµo hiÖp, cã lóc v× ngêi kh¸c mµ ®©m chÕt ngêi. 294. Tặng Hoa Khanh Cẩm Thành đàn sáo suốt đêm ngày, Nửa tan vào gió, nửa vào mây. Vốn của thiên cung, nơi hạ giới, Ai đã từng nghe nhạc khúc này? 295. Bát đồ trận 1) Giúp thiên hạ chia ba. Nổi tiếng bát đồ trận. Sông chảy, đá vẫn trơ. Chưa lấy Ngô, còn hận. 1. Thời Tam Quốc Gia Cát Lương cho xếp đá lập trận bát đồ cao năm thước, rộng mười vi ở tay nam cung Vĩnh An, nay thuộc Tứ Xuyên. Sau này tướng Ngô là Lục Tốn đến xem bị lạc, may được Hoàng Thừa Nghiện, bố vợ Khổng Minh, chỉ đường mới thoát. Năm 768 Đỗ Phủ đi qua đây nên viết bài thơ này. 296. Tiễn Hạ Tiêm ở bến sông Bùi ngùi lệ nhỏ lúc xa nhau: Đã bảy mươi rồi, còn đi đâu? Thuyền nghiêng, gió mạnh, buồn khi thấy Trên sóng bạc đầu người bạc đầu. 297. Trung thu Đêm nay là trung thu. Trời cao, trăng huyền ảo. Ai có tiệc lầu nam Mà rộn vang đàn sáo. 298. Lại buồn Các nước lo chinh phạt. Quê cũ giờ thế nào? Trước đã ít bạn hữu, Nay thêm họa binh đao. 299. Tuyệt cú Chim trắng bay, sông biếc. Núi xanh tươi, đầy hoa. Lại thêm một xuân nữa. Biết bao giờ về nhà? 300. Gặp ông Lý Niên ở Giang Nam Trước nhà Thái Cửu từng nghe tiếng. Trong phủ Kỳ Vương gặp mấy lần. Giang Nam xinh đẹp mùa hoa rụng. Bây giờ lại gặp trạm dừng chân. 301. Tuyệt cú Đôi chim oanh hót trên cành liễu. Chấp chới trời xanh mấy cánh cò. Khung cửa in tranh mờ núi tuyết, Dập dìu thuyền đậu bến Đông Ngô. 302. Mạn hứng Đứng ngắm sông xuân những chạnh lòng. Một mình chống gậy bước thong dong. Tơ liễu quay cuồng khi gặp gió. Theo nước, hoa đào trôi dưới sông. 303. Quan Lý Cố mời xem tranh Tư Mã, em trai ông ta 1) (Trích) Cảnh thần tiên, trời, nước. Thiên Thai, mây nhiều màu. Đời trần này đẹp thế, Còn thoát trần đi đâu? 1. Lý Cố mời Đỗ Phủ xem tranh của em mình là Tư Mã, và xin đề thơ bình. Đỗ Phủ viết ba bài. Đây là bài thứ hai. Bài có tám câu, xin trích dịch bốn câu ý chính. 304. Trông cảnh xuân Nước mất, còn núi sông. Cỏ vẫn mọc ngoài đồng. Thương đời, hoa nhỏ lệ. Tiễn bạn, chim đau lòng. Lửa hiệu đốt ba tháng. Thư nhà luôn chờ mong. Tóc đã bạc, lại ngắn. Cài trâm, cài không xong. 305. Được tin em Quan từ Trung Đô đã về tới Giang Lăng, cuối tháng xuân này sẽ đến Quỳ Châu, vừa mừng vừa tủi, cuộc sum họp có thể đợi chờ, làm thơ tỏ chuyện ấy, tình lộ ra cả ở lời Em đã đến Giang Phủ. Bao giờ về Giáp Châu? Vì loạn, thành ly biệt, Nay sắp sửa gặp nhau. Bệnh hết, mắt thôi chớp. Sáng sáng bước lên lầu, Hết sợ chết xương trắng. Cũng bớt phần lo âu. 306. Lên lầu thành Duyện Châu Đến Đông quan thăm cha. Lên lầu Nam nhìn ra. Mây đầy biển Đông Hải. Thanh Từ đất bao la. Thành hoang còn điện Lỗ. Bia Tấn núi xa xa. Nơi này nhiều cảnh cũ, Xem không muốn về nhà. 307. Ngắm cảnh đồng quê Bầu trời thu trong vắt. Một vệt mờ rừng cây. Trời, nước hòa làm một. Thành chìm trong sương dày. Gió thổi, cây rụng lá. Mặt trời lặn phía tây. Quạ trong rừng nhao nhác. Bay đâu hạc lẻ bầy? 308. Núi Vu ngày tạnh ráo Núi Vu đẹp như gấm. Sau mưa trời cao trong. Cỏ ngoài ao xanh biếc. Mây phía biển đỏ hồng. Suốt ngày chim oanh hót. Hạc giăng hàng trên không. Hoa lặng lẽ héo rụng, Gió thổi, bay ngoài đồng. 309. Đêm mười bảy, ngắm trăng Trăng thu tròn và sáng. Già, bên sông sống lười. Cuốn rèm, trăng hắt bóng. Chống gậy, trăng theo người. Ánh trăng làm rồng quẫy. Chim tỉnh, bay lên trời. Nhà tranh bên gốc bưởi. Long lanh giọt sương rơi. 310. Suy nghĩ khi ra ải Dùng cung, cung phải cứng. Bắn tên, tên phải dài. Bắn người, bắn ngựa trước. Bắt tướng để thị oai. Giết người nên có hạn. Người - ai cũng như ai. Ví như tướng đánh giặc, Đâu giết nhiều là tài! 311. Đêm trăng, nhớ em Nghe trống, chân dừng bước. Ngỗng kêu, thu gợi sầu. Đêm nay sương dày đặc. Quê cũ, ánh trăng thâu. Anh em người một ngả. Chết hay còn, ở đâu? Thư gửi nhiều, không tới. Binh lửa hẳn còn lâu. 312. Lại nhớ em Thời loạn, nghe tin chú Đang náu ở Tế Châu. Đường xa, thư không tới. Biết bao giờ gặp nhau? Trước cũng từng chạy giặc, Bao vất vả, buồn đau. Thôi, mọi điều phó mặc Dòng nước kia đục ngầu. 313. Đập vải Chàng vẫn ngoài biên ải. Mỗi bận mùa thu về, Lau sạch chày đập vải, Lòng thiếp buồn ủ ê. Thiếp đập vải, nhuộm áo Gửi cho chàng - phòng the, Đập thật mạnh, đập mãi, Mong ngoài ấy chàng nghe. 314. Gửi Đỗ Vi Ngày lạnh, trời chóng tối. Mất tổ, vượn kêu sầu. Trên sông chợt nhớ bác. Bác bây giờ ở đâu? Gửi thân nơi cát bụi, Có tránh khỏi buồn đau? Gói phong thư gửi bác Mà lệ ứa hồi lâu. 315. Buổi chiều Trâu dê đã xuống núi. Nhà nhà cổng cài then. Trăng gió, đêm vắng lặng. Sông núi, cảnh không quen. Giọt sương treo ngọn cỏ. Vách đá, suối kề bên. Đầu bạc bên đèn sáng. Cần chi nở hoa đèn. 316. Lên lầu Nhạc Dương Động Đình xưa nghe tiếng, Nay lên lầu Nhạc Dương. Sở Ngô ở hai phía, Trời đất mịt mù sương. Thân già, chiếc thuyền nhỏ, Vắng tin bạn, người thương. Binh đao ngoài ải bắc. Tựa hiên, lòng vấn vương. 317. Đêm ở đất khách, viết thơ để nói nỗi lòng mình Hai bờ, cỏ gợn sóng. Chiếc thuyền, buồm dương cao. Trên sông trăng vỡ vụn, Ngoài đồng nhấp nháy sao. Nghề quan lo nghĩ lắm. Nghiệp văn, nghiệp tầm phào. Chơi vơi giữa trời đất, Chim âu về nơi nào? 318. Đền thờ vua Vũ Đền vua Vũ trên núi. Gió thu thổi, xế tà. Sân đầy bưởi và quýt. Rồng vẽ kín vách nhà. Đền vắng, hơi mây lạnh. Nước trong hang chảy ra. Vua dùng xe bốn loại, Xây đập chắn Tam Ba. 319. Mặt trời lặn Mặt trời xuống sát vách. Xuân về bên suối trong. Bác tiều phu nhóm lửa Trên thuyền, giữa eo sông. Côn trùng bay đầy ngõ. Chim giành nhau quả thông. Giá có vò rượu đục Uống cho vợi nỗi lòng. 320. Đêm xuân, mừng trời mưa Đang tiết xuân, bất chợt Trời đổ trận mưa lành. Muôn vật được tưới mát. Hơi ẩm bốc xung quanh. Thuyền chài le lói sáng. Đường quê mây bập bềnh. Chắc sáng mai, rực rỡ, Hoa nở khắp Cẩm Thành. 321. Chiều hôm Nơi này nước chảy xiết. Hoàng hôn, núi nhuộm màu. Hoa lạnh trong cỏ rối. Chim ngủ tận rừng sâu. Bao giờ thấy quê cũ? Trời thu gợi nỗi sầu. Ở đời gặp may hiếm. Thoắt cái đã bạc đầu. 322. Không gặp Lâu không gặp Lý Bạch. Cứ giả khùng, giả sai. Người đời muốn ông chết, Nhưng ta thì mến tài. Giang hồ, rượu cứ uống. Thơ viết cả nghìn bài. Nay già, đừng đi nữa, Về đọc sách, nằm dài. 323. Dong thuyền trên sông Bồi, đưa Vi Ban về kinh Ngồi thuyền đưa tiễn bác. Sông buồn khách đi xa. Lênh đênh lâu đất khách, Mong bác sớm về nhà. Mây lửng lờ trên núi. Lớp lớp cây chen hoa. Quê người bạn bè ít, Đã già càng thêm già. 324. Trên cánh đồng phía tây Thế Thành, tiễn ông Lý phán quan và ông em Vũ phán quan đi phủ Thành Đô Thời gian trôi lặng lẽ. Bùi ngùi tiễn người thân. Xa xa nước gợn sóng. Buông tơ hàng liễu gần. Hoa đồng nội đang nở. Núi dạt dào sắc xuân. Sao đời lắm ly biệt Để buồn thương nhiều lần. 325. Ông Hai viên ngoại Phạm Mạc và ông Mười thị ngự Ngô Úc chiếu cố đến thăm, vì tiếp đãi sơ sót nên viết bài này Sang chơi bên hàng xóm, Không biết khách đến nhà. Quả là vinh dự lớn Dành cho kẻ yếu già. Xóm vắng không có khách. Lại ở tít đồng xa. Mong các vị lại đến Cùng đàm đạo, uống trà. 326. Sông Khúc Bài một Mỗi cánh hoa rơi, xuân bớt xuân. Nhìn hoa trong gió, những bần thần. Thôi, mặc hoa rơi, rượu cứ uống, Để cho con tạo cứ xoay vần. Nhà nhỏ bên sông cò vẫn đậu. Vẫn trên sườn núi chú kỳ lân. Nghĩ kỹ, đời này nên hưởng lạc, Đừng vì danh hão, bận vào thân. 327. Sông Khúc Bài hai Tan chầu, cứ phải uống thật say. Hề chi cầm áo uống hàng ngày. Đời người thất thập xưa nay hiếm. Nợ tiền uống rượu, chuyện xưa nay. Rỡn nước, chuồn chuồn luôn thấp thoáng. Bươm bướm lại về, chấp chới bay. Hãy nhớ: Thời gian trôi mãi mãi. Vậy thì vui đến, cứ vui ngay. 328. Chơi thuyền ở bến Tây Thành Mày xanh, răng trắng, chiếc thuyền con. Tiêu ngắn, sáo dài cứ véo von. Gió xuân nhẹ thổi, say lòng khách. Cánh buồm no gió giữa hoàng hôn. Én chao, sa cả vào mâm tiệc. Cá lượn tung tăng giữa sóng dồn. Nếu không có buổi chơi thuyền đẹp Thì đâu có rượu để trào tuôn. 329. Đêm ngủ lại trong phủ Đêm thu lạnh lẽo giếng ngô đồng. Một mình ngủ lại phủ ven sông. Trời cao, trăng sáng cho ai ngắm? Đêm khuya tiếng trống vọng vào phòng. Lần nữa binh đao, tin vắng bặt. Quan ải tiêu điều, xe khó thông. Thấm thoắt mười năm, thân lặn lội, Nay nương một chỗ, tạm yên lòng. 330. Thơ đề nơi ở ẩn của họ Trương Vui được làm khách bác. Hứng, ở luôn hết ngày. Hươu chạy trong vườn cỏ. Cá mè nhảy như bay. Mời nhau chén rượu Đỗ. Lê trương 1) nhà có đầy. Đường về, núi hiểm trở. Say mà không sợ say,. 1. Rượu đỗ, lê trương, hai đặc sản vùng quê của Đỗ Phủ. 331. Dự tiệc đêm ở nhà chàng họ Tả Gió rừng thổi, trăng lặn. Sương đêm vướng tiếng đàn. Qua luống hoa nước chảy. Sao vãi trên lan can. Đốt nến ngồi đọc sách. Nhìn gươm, rượu rót tràn. Làm thơ xong, nghe hát, Lại nhớ chiếc thuyền nan. 332. Ngắm cảnh buổi sớm Trống cầm canh Bạch Đế Báo Dương Đài rạng ngày. Mặt trời lạnh nhô núi. Mờ mờ những đám mây. Cánh buồm xa, gió thổi. Nghe rõ tiếng lá cây. Hươu nai đùa trước ngõ Muốn gọi mây vào bầy. 333. Thơ vặt ở Tần Châu Thành Tần Châu phía bắc. Ngôi chùa cổ sát đồng. Tường điện loang nét vẽ. Cửa núi phủ rêu phong. Trăng soi sương trên lá. Gió thổi, mây bập bồng. Sông Vi vẫn hờ hững Buồn bã chảy về đông. 334. Tuyết rơi trong đêm, trên thuyền nhớ em là thị ngự Lư Vu Tứ Gió thổi trên sông Quế. Tuyết rơi nặng từng bông. Lầu nam trăng mờ ảo. Bãi bắc gió buốt lòng. Ánh đèn nghiêng, thuyền nặng. Yên tĩnh trùm mênh mông. Ở xa, nghe gà gáy, Chú có nhớ anh không? 335. Ngắm tuyết Tuyết đã đến Trường Sa. Mây Hồ lạnh muôn nhà. Lá rơi bay theo gió. Mưa nhiều, không nở hoa. Cứ có tiền trong túi, Bình rượu đầy thôi mà. Khi không ai cùng uống, Chờ quạ chiều bay ra. 336. Chiều tạnh Chiều trong thôn, gió mạnh. Sân lênh láng sau mưa. Nắng sưởi làn cỏ mịn. Màu sông hắt rèm thưa. Rượu uống nhiều, tự rót. Sách đọc xong vứt bừa. Thỉnh thoảng nghe người nói: Ông lão này lạ chưa! 337. Đom đóm Bay ra từ cỏ mục, Không dám gần mặt trời. Không đủ sáng đọc sách. Đôi lúc bám vào người. Đôi lúc ra bãi vắng, Chập chờn như ma trơi. Chúng trốn đâu không biết Giữa mây gió tháng mười? 338. Chim khướu Chim khướu từ đâu tới, Mang xuân đến mọi nhà. Giỏi nhại tiếng chim khác, Khéo múa bên cành hoa. Trốn gần không ai thấy. Hót hay khi ở xa. Chẳng trách mỗi lần hót Không ít người gièm pha. 339. Thuyền đến thành Quí Châu nghỉ lại, vì mưa dầm không thể lên bờ từ biệt phán quan Vương Mười Hai Thuyền đậu trên bãi vắng. Bờ đá ánh trăng lồng. Con gì kêu là lạ. Mưa rào rạt trên sông. Chuông sớm, bến sông ẩm. Nhà cổ, mây bập bồng. Mái chèo như cánh nhạn. Buồn này bác biết không? 340. Nhìn đom đóm Đêm thu đom đóm lập lòe bay. Chui cả vào màn, bám cả tay. Chắc sợ trong phòng đàn, sách lạnh, Lại bay ra ngõ, tụm thành bầy, Trông giống sao thưa trên trời vắng, Vật vờ giếng nước đến bờ cây. Buồn xem đom đóm ông đầu bạc. Năm tới giờ này có đến đây? 341. Khách đến nhà Hai phía bắc nam đều ngập nước. Chim âu không ngớt lượn quanh nhà. Nay bác đến chơi, ra mở cổng. Vắng khách nhiều ngày, chửa quét hoa. Chỉ tiếc nhà nghèo nên rượu nhạt. Thanh đạm mâm bàn vì chợ xa. Nâng cốc uống đi, rồi bảo trẻ Còn bao nhiêu rượu cứ mang ra. 342. Cùng uống rượu ở Lam Điền Thu đến, tuổi già gượng giải khuây. Hai người tôi bác uống hôm nay. Thẹn mình tóc ngắn làm rơi mũ. Nhờ bạn ngồi bên giúp buộc dây. Sông Lam góp suối từ xa đến. Núi Ngọc hai hòn cao tận mây. Dịp này năm tới ai còn khỏe? Đã vậy cứ ngồi uống thật say. 343. Tặng người ở núi Chu Sơn Ông đồ thôn Cẩm đội khăn ô. Ngoài vườn thu hoạch lắm khoai ngô. Chim sẻ quen ăn, vào tận bếp. Dạn khách, trẻ con thật lắm trò. Sông thu sâu độ dăm ba thước. Chở hai ba khách một chuyến đò. Tre xanh, cát trắng, làng bên bến. Tiễn người trước cổng lúc trăng nhô. 344. Sông Thanh Làng nằm lọt giữa khúc sông Thanh. Xóm bến mùa hè luôn vắng tanh. Chim âu quen thuộc chao trên nước. Con sáo thờ ơ nhảy giữa cành. Vẽ bàn cờ giấy chơi cùng vợ. Uốn lưỡi câu cùn cho trẻ ranh. Ốm mãi, uống nhiều, quen vị thuốc. Thân hèn không thiết chuyện công danh. 345. Uống rượu ở sông Khúc Vườn ngự bên sông, ngồi suốt ngày. Gác lầu soi bóng, nước lung lay. Theo cánh hoa lê, hoa đào rụng. Chấp chới chim vàng, chim trắng bay. Lười chầu, là việc xưa nay hiếm. Lâu không có bạn, một mình say. Tự trách già rồi không ở ẩn, Không về nhàn nhã với rừng cây. 346. Thu mới Mây khói chưa đùn thành núi lạ, Giật mình đã thấy lá vàng rơi. Tiếng chày đập vải vang đâu đó. Rét lạnh vườn cây giữa đất trời. Râm ran ve khóc, thương trăng héo. Đom đóm lập lòe lượn khắp nơi. Tặng đền Kim Mã bài thơ mới. Tóc trắng, buồn thay, đã rối bời. 347. Cảm hứng mùa thu Rừng phong sương xuống, khói âm u. Khí lạnh ùn ùn phía núi Vu. Dưới sông mây nước đua nhau chảy. Ngoài ải gió mây cuốn bụi mù. Cô đơn, thuyền gợi tình quê cũ. Cúc vàng nhỏ lệ kiếp phù du. Háo hức nhà nhà may áo mới. Tiếng chày đập vải rộn chiều thu. 348. Đêm thu, ngủ ở nhà Tả Tỉnh 1) Bờ tường ngắn, hoa ít. Tiếng chim hót trên cao. Trăng rải vàng xuống đất. Trời lấp lánh muôn sao. Không ngủ, nghe tiếng khóa. Cả tiếng gió ào ào. Biết là sẽ được tiếp, Mà vẫn lo thế nào. 1. Nơi khách chờ trước khi gặp vua trong Cố Cung. Năm Chí Đức thứ hai, đời Đường Túc Tông, Đỗ Phủ được mời làm Tả thập di, chờ yết kiến nhà vua. 349. Theo công tử Chư Quí đến khe Trương Bát, có đem theo kỹ nữ, buổi chiều mát gặp mưa Bài một Xế chiều, thuyền lướt nhẹ. Gió thổi, nước lững lờ. Trời đẹp, sen thơm ngát. Tre mọc kín hai bờ. Công tử giục thuyền chạy. Người đẹp cười, mộng mơ. Bỗng mây đen kéo đến, Đúng lúc nẩy ý thơ. 350. Theo công tử Chư Quí đến khe Trương Bát, có đem theo kỹ nữ, buổi chiều mát gặp mưa Bài hai Mưa xuống, ướt chiếu tiệc. Gió mạnh quất bốn bề. Cô gái Việt quần ướt. Nàng nước Yên ủ ê. Dây chằng làm dập liễu. Buồm rách lúc quay về. Thoảng hơi thu lành lạnh, Dẫu còn đang mùa hè. 351. Ngày xuân, nhớ Ly Bạch Chẳng ai bằng Ly Bạch. Thơ ngang tàng khác thường. Tươi mới như Dữu Tiến. Tài cao như Bảo Lương. Xanh như cây Vị Bắc. Đẹp như mây Hàm Dương. Mong sớm cùng Ly Bạch Uống rượu, chuyện văn chương. 352. Thơ vặt ở Tần Châu Thành trơ trong lũng vắng. Núi tiếp núi xa xa. Mây bay ra biên giới. Trên ải mảnh trăng tà. Quan Thuộc Quốc về muộn Vì bận việc can qua. Tơi bời vì khói trận, Bùi ngùi đứng mình ta. 353. Tiễn bác Nghiêm ở trạm Phùng Tế Ngậm ngùi đưa tiễn bác. Sông núi chứa chan tình. Hôm qua cùng đi dạo, Nay đã đi sao đành. Dân các quận nhớ bác. Suốt ba triều hiển vinh. Bác về ẩn xóm núi, Sống nhàn nốt đời mình. 354. Tiễn người đi xa Khắp nơi đều có giặc, Bác còn định đi đâu? Bạn bè ai cũng khóc. Con ngựa đứng buồn rầu. Đến mùa, cây trụi lá. Sông tuyết phủ một màu. Phải chia tay bạn cũ, Chợt thấy lòng quặn đau. 355. Con hoẵng Bị bắt từ khe núi Để đưa lên bàn ăn. Tài không bằng ẩn sĩ, Đâu dám trách gia nhân. Đời loạn, thú cũng khổ. Bao hiểm họa xa gần. Loáng một cái, vào bụng Bọn giàu, bọn bất nhân. 356. Cây mai bên sông Tháng Chạp, mai hé nụ. Tết, hoa nở trên cành. Vẫn biết xuân tốt đẹp, Khách buồn, vui sao đành. Tuyết và mai cùng trắng. Nắng làm nước long lanh. Cố nhìn quê, không thấy. Núi Vu Sơn thật xanh. 357. Đôi én Kiếm cái ăn, sợ hãi, Đôi én bay vào nhà. Tìm đến nơi mát mẻ, Tránh cái nóng quê nhà. Vất vả nuôi con nhỏ, Bay đến từ phương xa. Đời này ta cũng vậy, Phải lưu lạc, bôn ba. 358. Bài hành nuôi tằm, trồng lúa Nước có nhiều quận huyện. Mỗi quận huyện nhiều thành. Thành có nhiều vũ khí. Nếu không có chiến tranh, Biến gươm thành cày cuốc, Thì lúa tốt, dâu xanh. Binh sĩ không phải chết, Dân được hưởng hòa bình. 359. Ở lâu nơi đất khách Sống gửi, thương bè bạn. Ở lâu, biết thói đời. Tự diễu mình ốm yếu, Bé nhỏ và dở hơi. Vương Xán buồn, bỏ nước. Giả Nghị khóc kiếp người. Lũ chồn cáo ti tiện. Cọp sói đang gặp thời. 360. Sông Giang, sông Hán Vùng sông Giang, sông Hán Có ông gàn nhớ nhà. Nhìn trời mây vời vợi, Buồn với mảnh trăng tà. Mặt trời lặn, còn hứng. Thu về, bệnh sắp qua. Cả gia tài duy nhất Chỉ có con ngựa già. 361. Sông trời Rất sáng khi thu đến. Mùa khác có lúc mờ. Lung linh hai cửa khuyết. Bên thành, trăng thờ ơ. Ngưu Lang và Chức Nữ Phải năm năm đợi chờ. Sông trời lớn và rộng Chưa nổi sóng bao giờ. 362. Ngắm trăng đêm mười sáu Trăng thu sương phủ bạc, Suốt mùa hè dát vàng. Quan sơn trăng man mác. Dải Ngân Hà mênh mang. Trên núi bác tiều hát. Tiếng sáo chài âm vang. Trằn trọc không ngủ được. Có con thuyền đi ngang. 363. Phòng khuê Phòng khuê, ngọc giá lạnh. Gió thu thổi qua lầu. Ao rồng đầy cung cũ. Trăng Tần khuyết, gợi sầu. Giọt đồng hồ vẫn chảy. Lặng lẽ buộc thuyền câu. Núi Hoàng xanh phía bắc. Vườn Lăng sương bạc màu. 364. Chim nhạn về Mùa thu đến, chim nhạn Lại bay về phương xa. Tới La Phù tránh tuyết, Rời Trường Hải xem hoa. Đó là điềm ly loạn. Bao giờ hết can qua? Đã năm năm xa cách. Chưa một lần về nhà. 365. Đêm trên gác Ngày tháng cuối năm như ngắn lại. Đêm đỡ lạnh hơn nhờ tuyết rơi. Trống đánh năm canh nghe não ruột. Sao xa nhấp nháy phía chân trời. Chinh chiến, nhà bên rầu rĩ khóc. Đâu đó anh chài hát, nghỉ ngơi. Rốt cục mọi điều vùi dưới đất. Đã lâu, sốt ruột vắng tin người. 366. Thơ làm trên thuyền, ngày tiểu hàn Rượu suông, đồ nguội, nắng lung linh. Áo mũ chỉnh tề, buồn một mình. Sóng xuân, thuyền nhẹ như lơ lửng. Mắt kém, nhìn hoa chẳng rõ hình. Chao lượn trên sông con nhạn trắng. Bên thuyền, đàn bướm cánh xinh xinh. Mây trắng, núi xanh, dài tít tắp. Buồn trông phía bắc, chốn kinh thành. BẠCH CƯ DỊ Tác giả: Sinh năm 772, mất 846, tự Lạc Thiên, cuối đời gọi là Hương Sơn cư sĩ, người Thái Nguyên (Sơn Tây); đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 16 (800), gặp thăng trầm nhiều trong nghiệp làm quan. Thơ ông gồm hai mảng lớn là phúng dụ và trữ tình thiên nhiên. Ông đã sáng lập trường phái đề cao tính hiện thực trong thơ, người sau gọi là "Nguyên Bạch thi phái" Tác phẩm hiện còn lưu lại được "Bạch Thị Trường Khánh tập" gần 3000 bài. 593. Trên ao Có cô bé bơi thuyền Trộm hái vài bông sen. Vụng về không biết giấu, Để bèo dạt hai bên. 594. Suối Bạch Vân Nơi trời yên tĩnh, nước lăn tăn, Từ núi Thiên Bình, suối Bạch Vân. Suối đổ xuống đây, thành thác chảy, Cho sóng thêm to ở cõi trần? 595. Ở huyện Hàm Đan, đêm nhớ người thân Hàm Đan, đông chí, trước đèn hoa Chỉ một mình ta với bóng ta. Ở quê có lẽ còn chưa ngủ, Mọi người đang nhắc kẻ đi xa. 596. Tử vi
Ty Luân gác đỏ, ánh dương tà. Trên lầu chuông điểm giọt ngân nga. Gấp sách một mình ngồi, không bạn - Tử vi người với tử vi hoa. 597. Hoa hạnh ở thôn Triệu Thôn Triệu hoa hồng nở tháng Ba. Ta đã nhiều lần tới ngắm hoa. Bảy mươi ba tuổi, nay lần cuối. Có lẽ sang năm đã quá già. 598. Tự nói với mình Đi thi năm ấy, dẫu nghèo hèn, Áo dài đổi rượu đãi người quen. Một đấu mười nghìn còn dám uống. Nay có lương quan, chẳng tiếc tiền. 599. Chim vẹt đỏ An Nam cống nạp vẹt lông hồng, Biết nói như người - chuyện tây đông, Văn chương, luân lý đều am hiểu. Giỏi thế làm sao thoát khỏi lồng? 600. Đêm xuân Hoa chẳng phải hoa, sương chẳng sương. Hình như ngày đã rạng ngoài đường. Đêm xuân giấc ngủ như mây mỏng, Hết tụ rồi tan, chẳng vấn vương. 601. Lời cung nữ Không ngủ năm canh, lệ thấm đầy. Tiếng đàn đã tắt, gió mành bay. Nhan sắc chưa phai, vua ghẻ lạnh. Tựa gối ngồi nghiêng tới rạng ngày. 602. Hỏi Lưu Thập Cửu Có vò rượu mới cất, Lại sẵn bếp than hồng. Tuyết đang rơi, trời lạnh. Có làm một chén không? 603. Bên ao Tây ao dựng nhà nhỏ. Đông ao trồng khóm cây Để đón trăng và gió. Ai đoán hiểu điều này? 604. Nghỉ trọ dưới núi Trọ một mình dưới núi. Đi dưới ánh trăng tà. Tiếng chày giã cối đá Vang dọc suối xa xa. 605. Có bạn đến thăm ban đêm Chiếu ngoài thềm, gió mát. Chén rượu ngời ánh trăng. Một mình đã thấy thích. Có bạn, còn gì bằng? 606. Mưa đêm Dế kêu rồi im lặng. Đèn hết sáng lại mờ. Rì rào trên lá chuối - Biết là trời đang mưa. 607. Tiếng dế đêm thu Trời tối, ngoài cửa sổ Dế rền rĩ không nguôi Làm càng thêm nhớ vợ. Mưa thu, buồn tê người. 608. Đêm cô đơn đầu thu Cây khô soi giếng lạnh. Tiếng chày vang trong sương. Ngủ ngoài hiên, chợt tỉnh, Thấy trăng sáng nửa giường. 609. Đêm đông nghe tiếng dế Tiếng dế đêm đông nghe thật lạ. Đang vui cũng thấy buồn không đâu. Ta đã già rồi, nghe chả sợ. Người trẻ đừng nghe, khéo bạc đầu. 610. Các kỹ nữ của ông Trương Bộ Dịch quá cố Cần người múa hát, mở hầu bao, Ông bỏ tiền mua gái má đào, Rồi dạy đủ trò... ông kiệt sức, Chết chẳng mang theo được ả nào. 611. Ngày mười lăm tháng giêng, ở Trường An Kinh thành năm mới, cảnh vui tươi. Ốm phải ở nhà, chẳng dạo chơi. Trăng rằm tháng giêng, đêm trời mát, Nhưng vạn người vui, buồn một người. 612. Ở sông Khúc, nhớ Nguyên Cửu Buồn vì vắng bạn, chẳng chơi xuân. Ba phần vui thú giảm hai phần. Sáng nay đã thế trong vườn hạnh Gặp toàn người lạ, vắng người thân. 613. Bày tỏ nỗi lòng thay cho ông lão hàng xóm Con người mong muốn chẳng bền lâu. Ngày trước bây giờ khác xa nhau. Trước mong chóng già thành thông thái. Giờ tiếc thời gian nhuộm trắng đầu. 614. Bên bàn tiệc ngày Trùng dương, vịnh cúc trắng Trong vườn tất cả hoa đều đỏ, Một bông lại trắng, chẳng hài hòa. Sáng nay cũng vậy, bên bàn tiệc Mọi người đều trẻ, chỉ ta già. 615. Bài hát hái sen Lá sen lay động, nước chao chao. Thuyền rẽ hoa sen cứ lướt vào. Gặp chàng muốn nói mà cúi thẹn, Để chiếc trâm vàng rơi xuống ao. 616. Bài hát thương xuân Bên thềm, hoa đậm nhạt trên cây. Ngoài cửa chim oanh hót suốt ngày. Rèm rũ, má son nhòe thấm lệ. Thương tiếc cho xuân, xuân chẳng hay. 617. Cô gái bán củi nghĩ về các kỹ nữ Vào rừng đốn củi chửa tan sương. Đầu rối, khăn thô, khổ mọi đường. Loại gái gì kia mà áo đỏ, Thong dong cưỡi ngựa bến Tiền Đường? 618. Người phụ nữ nhớ chồng Gió xuân thổi nhẹ phía trời đông, Làm cả vườn hoa nở rực hồng. Nhưng không xua được mây trên mặt Người vợ cô đơn, khổ, nhớ chồng. 619. Đê Ngụy Vương Trời lạnh, hoa chưa nở. Chim không hót trên cành. Ngựa đưa thư rảo bước. Đê Ngụy Vương liễu xanh. 620. Nhớ cây liễu bên sông Tự trồng khóm liễu sát bờ sông. Đi xa thấm thoắt mấy năm ròng. Giờ liễu ra hoa, ai được bẻ? Tự nhiên vương vấn nhớ trong lòng. 621. Trồng vải Như ngọc, hạt hồng, quí lắm đây. Quan thái thú già thật đến hay. Mười năm bói quả, ông còn sống, Mà chút sân con vải mọc dày? 622. Khúc ngâm trên sông buổi chiều Xế chiều, vệt nắng nhạt trên sông. Một nửa đen đen, một nửa hồng. Tháng Chín, mồng ba, trăng rất mảnh, Sương như màn ngọc phủ tầng không. 623. Ba năm xa cách Xa nhà mới đó đã ba năm. Nhớ quê nhiều nhất những đêm rằm. Đã ba mươi sáu lần trăng sáng, Đứng buồn, ngong ngóng chốn xa xăm. 624. Tiễn Hạ Chiêm bên sông Tiễn bác đi xa, nhỏ lệ sầu. Bảy mươi, già yếu, cửa nhà đâu? Buồn nữa, đúng hôm trời nổi gió. Giữa sóng bạc đầu khách bạc đầu. 625. Ngồi tĩnh lặng Trăng sáng, ngồi tĩnh lặng. Mới dậy, sắp bình minh. Chiếu thấm sương, ẩm mát. Ngọn đèn mờ lung linh. Hương trầm còn phảng phất. Với tay kéo tấm mành. Nhà ai đang dạy vẹt. Nghe vẹt nói, giật mình. 626. Ngồi ở đình bên sông, ngắm trời tạnh Khói tan trên mặt nước. Gió thổi nhẹ làn mây. Cầu vồng chợt xuất hiện. Chèo khua, chim nhạn bay. Cổng đóng, quan vừa nghỉ. Vắng tin nhà nhiều ngày. Mai đã tết Trùng Cửu, Biết cùng ai uống say? 627. Tan tiệc Trăn treo trên cầu nhỏ. Cuối cùng tiệc cũng tan. Con hát tản đi hết. Đèn mờ ngoài lan can. Ve kêu, báo thu đến, Chim nhạn bay thành đàn. Trước khi lên giường ngủ, Uống nốt chén rượu tàn. 628. Tiết hàn thực, nhìn ra cánh đồng Trước nhà họ Quách, mộ đầy đồng. Hàn thực, nhà ai khóc não lòng. Mộ xưa cỏ mọc xanh nhiều lớp. Mấy tờ tiền giấy lượn trên không. Ly biệt âm dương, người sống chết. Liễu buồn soi bóng xuống dòng sông Suối vàng có khóc, không nghe thấy. Người về, người ở giữa chiều đông. 629. Tiễn người trên sông thu Chim hồng nối nhau bay. Vượn buồn kêu suốt ngày. Hôm ấy trên thuyền nhỏ Khách ra đi nơi này. Mưa dầm dầm ướt áo. Mảnh mai cánh buồm gầy. Khói sóng buồn heo hắt. Rượu Tầm Dương không say. 630. Nhà lá mới dựng xong dưới chân núi Tân Bốc, ngẫu hứng đề thơ lên vách phía đông Thềm đá, vách tre, cột gỗ quế, Ba gian nhà lá nhìn ra hồ. Cửa bắc suốt hè luôn gió mát. Hiên nam đông ẩm nắng hong khô. Suối đổ trên cao, vườn được tưới. Bờ tre cao thấp đ ứng nhấp nhô. Mùa xuân mái nhà thơm hương gỗ. Vuốt giấy, kê bàn viết sách Nho. 631. Cỏ Mỗi năm một lần úa, Rồi lại xanh một lần. Lửa đồng đốt không cháy, Nẩy mầm cùng gió xuân. Xanh xanh bên thành cũ. Mùi thơm tỏa xa gần. Tiễn người đi, bịn rịn, Nặng tình, cỏ níu chân. 632. Buổi chiều, từ Hồ Tây trở về Đảo Thông, hồ Liễu với chùa Sen. Thuyền quay trở lại, triều đang lên. Lư quất gặp mưa, thêm nặng hạt. Lá tĩnh lư run trước mũi thuyền. Nước sông man mác soi trời biếc. Dưới nắng lô nhô mấy nóc đền. Cặp bến, mời anh nhìn ngoái lại: Giữa nước, Bồng Lai đang mọc lên. 633. Thơ đề ở chùa Tiên Du khi đưa tiễn bác Vương Mười Tám về núi Núi Thái Bạch kia từng vãn cảnh. Tiên Du chùa cổ mấy lần qua. Nhìn rõ đáy đầm khi nước lặng. Mây trắng tan rồi, thấy động xa. Trong rừng, đốt lá, ngồi hâm rượu. Quét rêu trên đá, chép thi ca. Buồn không trở lại nơi từng đến. Mong bác về xem cúc nở hoa. 634. Mới dọn đến ở chân núi Hương Lô, nhà cỏ vừa làm xong, chợt hứng đề bài thơ này lên vách phía đông Trời sáng đã lâu, còn biếng dậy. Hai lớp chăn dày, rét khỏi lo. Tựa gối nghe chuông chùa Ái điểm. Vén rèm ngắm tuyết núi Hương Lô. Tư Mã 1), chức quan khi lớn tuổi. Khuông Lư 2) về ẩn, tránh buồn lo. Nhàn nhạ, yên thân là sướng nhất. Cần gì cứ phải sống thành đô. 1. Chức quan coi việc hình pháp. 2. Tức Lư Sơn, tên ngọn núi ở Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. 635. Ý nghĩ mùa thu Ráng chiều như lửa đỏ. Trời xanh trong, bao la. Mây có hình thú vật. Mỏng tang trăng mồng ba. Chim nhạn bay về bắc. Tiếng chày đá xa xa. Mùa thu buồn như thế Khiến chưa già mà già. 636. Mùa xuân, dạo bên hồ Tiền Đường Chùa Cô Sơn bắc, Giả đình tây. Nước hồ phẳng lặng, trời nhiều mây. Nhà ai chim én tha bùn mới. Con oanh líu ríu giữa lùm cây. Hoa nở muôn màu, làm rối mắt. Dấu ngựa mờ phai, lối cỏ gầy. Thật thích, ven hồ đi, đi mãi. Bờ đê cát trắng, liễu xen dày. 637. Đêm xuân, đề thơ trên hồ Đẹp như tranh vẽ cảnh hồ xuân. Xung quanh núi đứng, nước trong ngần. Thông xanh lớp lớp trên sườn núi. Trăng vàng soi bóng, sóng lăn tăn. Lúa nếp một khoanh như tấm thảm. Vệt cỏ bồ non giống dải quần. Chưa bỏ Hàng Châu mà đi được Phần vì hồ đẹp, níu bàn chân. 638. Từ khi Hà Nam trải qua loạn lạc, vùng trong cửa ải nghẽn đường bị đói, anh em tan tác mỗi người một nơi, nhân trông trăng xúc cảm viết tả nỗi nhớ, gửi anh cả ở Phù Lương, anh Bảy ở Ư Tiềm, anh Mười Lăm ở Ô Giang, cùng nhắn các em trai, em gái ở Phù Ly và Hạ Khuê Loạn lạc, mất mùa, cảnh đáng thương. Phiêu dạt anh em, người một đường. Ruộng vườn hoang hóa vì binh lửa. Ruột thịt chia lìa khắp bốn phương. Thương nhạn lạc bầy nơi cát bụi. Tiếc cỏ bồng tàn giữa tuyết sương. Một lúc năm nơi giờ có lẽ Năm người ngắm nguyệt, nhớ quê hương. 639. Chơi hồ Tiểu Động Đình Bên cạnh hồ to lại có hồ. Hoa sen thơm ngát cõi hư vô. Sao đêm chi chít, chia thành khoảnh. Mây sáng năm màu, núi nhấp nhô. Chim đậu trên cây, trăng sáng lạnh. Dịu dàng gió thổi, sóng lô xô. Hồ thiêng, cảnh đẹp như tranh vẽ, Bốn mùa trong vắt, nước không khô. 640. Vịnh Vũ Hầu 1) Tiên sinh ở ẩn chốn rừng sâu. Chúa giỏi ba phen đến thỉnh cầu. Cá ở Nam Dương đang độ béo. Rồng lên thượng giới gọi mưa ngâu. Vua gửi con côi, bày lễ trọng. 2) Ông đền nợ nước nặng tình sâu. Bài biểu ra quân đầy khích lệ, Khiến đọc ai ai cũng lệ sầu. 1. Tức Khổng Minh Gia Cát Lượng, Lưu Bị ba lần đến lều cỏ mời, mới xuống núi phò Hán diệt Ngụy. 2. Trước khi chết Lưu Bị gửi gắm con mình là Lưu Thiện cho Khổng Minh. Thiện sau này hóa ra là người nhu nhược, ham chơi, nghe lời quan hoạn mà để mất nước. 641. Nghe tiếng chày đêm Ai đó nhớ chồng đang đập lụa. Trăng mờ, gió lạnh suốt đêm thâu. Mùa thu, tháng tám, đêm dằng dặc. Muôn nghìn tiếng đập nối theo nhau. Thêm một tiếng chày, thêm sợi bạc. Có lẽ sáng mai trắng hết đầu. 642. Đêm mưa, trên thuyền Gió lạnh thổi không dứt. Mây trên sông, tối đen. Sóng vỗ vào hai mạn, Mưa rắc trên mui thuyền. Trong khoang có người ốm Bị giáng đi châu Yên. 643. Thuế nặng (Lược dịch) Dân trồng dâu, cấy lúa Để có mặc, có ăn. Thế mà trẻ phải đói, Già không gì che thân. Quan ráo riết thu thuế, Chất đầy kho, đầy sân. Trong khi dân đói rét, Trong kho vải mục dần. 644. Anh học trò nghèo (Lược dịch) Anh học trò nghèo đói Sống trong hẻm một mình. Ra ngõ, gặp bạn cũ, Giờ đỗ đạt, hiển vinh. Bạn lờ như không biết, Quất ngựa phóng đi nhanh. Đời này đều thế cả, Đâu chỉ riêng mình anh. 645. Áo cừu nhẹ và ngựa béo (Lược dịch) Các quan đi dự tiệc, Mũ, yên cương sáng ngời. Áo cừu nhẹ, ngựa béo. Hả hê, miệng tươi cười. Tiệc rót đầy rượu quí. Món lạ từ khắp nơi. Năm ấy Cù Châu hạn, Người phải ăn thịt người. 646. Mua hoa (Lược dịch) Kinh thành xe nườm nượp, Kéo nhau đi mua hoa. Hoa đẹp, quí, lại hiếm. Hồng đỏ, huệ mượt mà. Những giò lan quí phái, Mọi người ngắm, xuyt xoa. Một lão nông đứng cạnh, Lẩm bẩm, vẻ thật thà: “Tiền một bông như thế Bằng thuế của mười nhà!” 647. Đêm yên tĩnh (Lược dịch) Ve kêu rồi im bặt. Đom đóm bay vệ đường. Ngọn đèn sáng, không khói. Chiếc chiếu tre đẫm sương. Đầu hè trăng chênh chếch. Gió thổi trên cành dương. Sao lạ lùng thế nhỉ? Lòng không chút vấn vương. 648. Tặng vợ (Lược dịch) Chết, cùng chung cát bụi. Sống, luôn ở bên nhau. Cơm áo chỉ cần đủ. Ở không cần gác lầu. Gương liêm khiết, thanh bạch Cố giữ cho đời sau. Vợ chồng đã gắn bó, Vui sống đến bạc đầu. 649. Mùa thu, lên núi (Lược dịch) Ốm mãi, quên đi dạo. Hôm nay lên núi chơi. Núi thu gầy, lạnh lẽo, Xơ xác như mặt người. Cây xanh làm chỗ tựa. Đá trắng nằm nghỉ ngơi. Trong lòng thấy thanh thản, Muốn ở lại suốt đời. 638. Rét gắt ở nhà quê (Lược dịch) Tháng Chạp năm Thiên Bảo, Tuyết rơi suốt năm ngày. Tre thông đều chết cóng, Huống chi đám dân cày. Cơm đói, không áo mặc, Còn bao nỗi đắng cay. Ta thì nhà kín gió, Lại chăn ấm, áo dày. Không đói ăn, nhàn nhã. Việc đồng không đến tay. Ngẫm điều ấy mà thẹn. Ta hạng người gì đây? 650. Nghe người khóc (Lược dịch) Xóm Tây hôm trước khóc. Tiếng khóc thật não lòng. Chồng chết, hăm lăm tuổi. Đó là vợ khóc chồng. Sáng nay lại nghe khóc. Tiếng khóc từ xóm Đông. Mẹ khóc con mười bảy, Chết, không có cháu bồng. Ra thiên hạ thế cả, Thường chết non, khổ không! Mình đã bốn mươi tuổi, Đã được gọi bằng ông, Sao soi gương, buồn bã, Thấy tóc trắng như bông? 651. Áo cừu mới may (Lược dịch) Vải Quế trắng như tuyết, Bông Ngô mềm hơn mây. May áo cừu thừa ấm. Vải nhẹ, bông lại dày. Đêm làm chăn, ngày mặc. Không sợ gió, tuyết bay. Bỗng giật mình, chợt nghĩ: Là trượng phu, xưa nay Phải giúp dân, giúp nước, Đâu an phận, cầu may. Làm sao ta no ấm, Khi đói rét dân cày? Mong có chiếc áo rộng, Bao phủ hết đời này, Để không ai còn rét, Bất hạnh chẳng hề hay. 652. Người tìm củ địa hoàng (Lược dịch) Mạch chết vì sương muối. Lúa - vì nắng chang chang. Đói ăn nên vác cuốc Đi tìm củ địa hoàng. Đi từ trời chưa sáng, Tối mịt mới về làng. Đem giỏ củ bé nhỏ Tới cửa nhà cao sang: “Loại củ này sẽ giúp Ngựa ngài béo, mỡ màng. Xin đổi ít thóc ngựa, Qua cơn đói nhỡ nhàng!” 653. Xem gặt lúa (Lược dịch) Nhà nông ít lúc rỗi. Tháng Năm, việc bù đầu. Suốt ngày lo gặt lúa. Già và trẻ như nhau. Lưng cháy khô dưới nắng. Chân ngập dưới bùn sâu. Bên cạnh, một bà lão, Mót lúa, miệng lầu bầu: “Phải bán nhà nộp thuế. Vừa đói, vừa ốm đau…” Còn ta, ta nhàn nhã, Không cấy lúa, trồng dâu, Mà lộc quan trăm thạch, Ăn thừa đến năm sau. Nghĩ càng thấy xấu hổ. Vương vấn mãi hồi lâu. 654. Gửi ông Vương trong núi (Lược dịch) Nghe bác bỏ ăn ngủ, Vất vả bấy lâu nay Tìm thuốc, mong trường thọ. Tôi lại nghĩ thế này: Dài là so với ngắn. Ngọt là so với cay. Nghìn tuổi thông mới chết. Hoa dâm bụt - một ngày. Rốt cuộc đều thế cả, Đều gió thoảng, mây bay. Sống lâu hay chết yểu, Không quan trọng xưa nay. Không sống thì không chết - Biết đâu thế lại hay? Thái Bá Tân dịch
|